Bảo vệ nhà báo trong tác nghiệp phòng chống tham nhũng

Thứ tư, ngày 31 tháng 5 năm 2017 | 10:26:45

Luật sư Nguyễn Minh Tâm phát biểu trong Lễ ra mắt và phát hành Tạp chí Luật sư  Việt Nam, số 01. Ảnh: Luatsungaynay.vn

1.Tham nhũng hiện đang là “quốc nạn”. Một điều đơn giản ai cũng hiểu  chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân, trong đó nhà báo với chức năng của mình có vị trí rất quan trọng. Nhìn lại những năm qua, công cuộc chống tham nhũng, mặc dù đã được tuyên truyền, phát động, kêu gọi thực hiện nhưng hiệu quả vẫn còn rất hạn chế so với yêu cầu, thậm chí còn có chiều hướng tăng lên. Đã có nhiều cuộc hội thảo về đề tài này, nhiều giải pháp được nêu lên nhưng vẫn chưa phát huy tác dụng trong thực tiễn phòng chống tham nhũng. Một điều ai cũng nhận thấy là, hành vi tham nhũng bao giờ cũng gắn liền với những người có chức quyền trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị xã hội. Bởi vì, có chức quyền mới có điều kiện để tham nhũng. Do vậy, chống tham nhũng là chống lại những người có chức quyền đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản công. Điều này đã được minh định ngay trong khoản 2, Điều 1 của Luật phòng, chống tham nhũng. Nhận diện như thế sẽ  thấy tính chất cam go, phức tạp, thậm chí là sự sống còn của công cuộc phòng, chống tham nhũng. Khởi thủy, hành vi tham nhũng có thể chỉ là mang tính chất đơn lẻ của từng cá nhân, lợi dụng sự sơ hở của luật pháp và sự buông lỏng quản lý của Nhà nước để vụ lợi, chiếm đoạt tài sản công. Thực tế hiện nay cho thấy, tham nhũng đã phát triển gắn liền với khái niệm “lợi ích nhóm”, tức là của những người có chức có quyền trong hệ thống quyền lực các cấp, các tập đoàn kinh tế câu kết với nhau chi phối, thao túng tìm kiếm lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực đất đai nổi lên như một vấn đề nhức nhối khiến toàn xã hội lo ngại.

Thống kê cho thấy, số vụ việc tham nhũng bị phát hiện và xử lý rất ít so với thực trạng tham nhũng trong xã hội. Hơn nữa, hầu như các vụ việc này chủ yếu là do nhân dân và báo chí phát hiện, rất ít vụ việc được phát hiện từ các cơ quan, tổ chức. Vì vậy, những người phát hiện hành vi tham nhũng trở thành đối tượng bị theo dõi, chi phối, trả thù của các đối tượng tham nhũng. Cơ chế chính trị và luật pháp mặc dù đã có để bảo vệ những người dám tố cáo tham nhũng, nhưng chưa được thực hiện triệt để, chưa phát huy tính hiệu lực; thậm chí biện pháp xử lý cũng không tương xứng hoặc không xử lý để rơi vào sự im lặng, khiến những người có tâm huyết trong công cuộc phòng chống tham nhũng dần dần bị phai nhạt, “an phận thủ thường” làm cho tham nhũng càng có đất tồn tại và phát triển.

2. Vai trò của nhà báo trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được pháp luật xác định rõ ràng. Để hoàn thành vai trò, trách nhiệm trong việc phát hiện tham nhũng, nhà báo có các biện pháp tác nghiệp theo quy định của pháp luật, thu thập thông tin, tài liệu, cung cấp những sự kiện xác thực liên quan đến hành vi tham nhũng để các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Cơ sở pháp lý để nhà báo thực hiện chức năng xã hội của mình là Luật báo chí, Luật phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật báo chí năm 2016  (Điều 25) quy định các quyền và nghĩa vụ của nhà báo trong hoạt động tác nghiệp. Luật phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm của báo chí tại Điều 9 đã xác định rất rõ trách nhiệm của cơ quan báo chí : “Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng; hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng; khi đưa tin phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và phải chịu trách nhiệm về nội dung của thông tin đã đưa”.

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một cơ chế pháp lý cụ thể để bảo vệ nhà báo trong các trường hợp nhà báo khi tác nghiệp bị cản trở, thậm chí bị đe dọa, hành hung hoặc bị trả thù sau khi công bố kết quả phát hiện, xác minh, thu thập thông tin. Một số vụ việc nhà báo lãnh chịu hậu quả của hoạt động tác nghiệp vẫn chưa được xử lý rốt ráo, hoặc nếu có xử lý cũng chi theo lối tư duy “dĩ hòa vi quý” hoặc “hòa cả làng” dẫn đến hiện tượng nhiều nhà báo không dám dấn thân, thậm chí có người chán mà bỏ nghề… Đây là một hiện tượng đáng báo động trong việc phát huy vai trò, trách nhiệm của nhà báo trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

3. Để bảo vệ nhà báo trong hoạt động tác nghiệp, khơi dậy lòng yêu nghề, nhiệt tình đam mê và trách nhiệm đối với nghề báo trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, nổi lên một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, bản thân nhà báo phải tự bảo vệ mình trước đã. Nhà báo phải rất thận trọng trong hoạt động tác nghiệp, cần thông tin đúng sự thật trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và chịu trách nhiệm về kết quả thông tin của mình. Kinh nghiệm quý báu đối với nhà báo là tránh suy diễn, phán xét một cách chủ quan về sự kiện được thông tin. Chẳng hạn, khi đưa tin về một vụ án tham nhũng, nhà báo cần tuân thủ nguyên tắc phản ánh trung thực, không thông tin một chiều theo hướng quy kết buộc tội hay gỡ tội cho các bị can, bị cáo, gây hiểu không đúng về vụ việc trong dư luận xã hội. Muốn làm được như vậy, nhà báo phải vững về kỹ năng trong hoạt động tác nghiệp và tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của người làm báo. Nếu việc đưa tin không đúng sự thật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các chủ thể bị đưa tin dẫn đến khiếu nại thì cơ quan báo chí phải tổ chức xác minh, kiểm tra nội dung thông tin trong bài báo để có biện pháp giải quyết khiếu nại kịp thời. Nếu việc khiếu nại là có căn cứ thì phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân theo điểm d, khoản 3 Điều 25 Luật báo chí. Đây là điều mà trên thực tế, một số cơ quan báo chí chưa thực hiện tốt, thậm chí im lặng khiến cho sự việc khiếu nại trở nên nghiêm trọng, có trường hợp bị đương sự kiện ra tòa hoặc dùng các biện pháp vi phạm pháp luật để xử lý.

Việc nhà báo đưa tin xác thực, có căn cứ  về các hành  vi tham nhũng tức là đã đụng chạm đến các đối tượng tham nhũng là cá nhân hoặc các “nhóm lợi ích”, thậm chí ảnh hưởng đến sự sống còn của họ, có thể dẫn đến các hành vi cản trở, dụ dỗ, dùng tiền bạc, các lợi ích vật chất khác mua chuộc hoặc đe dọa  đến sức khỏe, tính mạng nhà báo. Có trường hợp nhà báo đã “mềm lòng” để bị mua chuộc,  rồi thậm chí còn biến mình thành công cụ để thực hiện các mưu đồ của các thế lực tham nhũng. Nhiều vụ việc xảy ra gần đây cho thấy, vì một lý do nào đó đã có sự tác động ngầm đến các cơ quan báo chí, nhà báo để đưa tin theo chiều hướng có lợi cho các “nhóm lợi ích”, gây bất bình trong dư luận xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào các cơ quan báo chí và giới làm báo, ảnh hưởng đến lòng tin của cộng đồng xã hội vào Đảng, Nhà nước. Nghề báo cũng như nghề luật sư, trong tác nghiệp rất cần đến việc trau dồi, giữ vững đạo đức nghề nghiệp, bởi đó là cái gốc của đời người, đặc biết là người làm báo và giới luật sư.

Thứ hai, trong các trường hợp nhà báo bị cản trở, đe dọa…hoặc đã bị xâm hại đến sức khỏe, tính mạng,  để bảo vệ nhà báo tác nghiệp, ngoài quyền khiếu nại, kêu cứu của bản thân nhà báo, Hội Nhà báo có một vai trò rất quan trọng. Khi được  cơ quan báo chí hoặc nhà báo hội viên yêu cầu, Hội Nhà báo cần có tiếng nói kịp thời kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan pháp luật có biện pháp xử lý các hành vi xâm hại đến quyền hành nghề của nhà báo. Pháp luật đã có các quy định về chế tài xử lý vi phạm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của hành vi như các chế tài phạt về hành chính, kinh tế, hình sự…

Để xử lý các hành vi vi phạm hoạt động tác nghiệp của nhà báo, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan pháp luật khi nhận đơn khiếu nại, yêu cầu của nhà báo hoặc văn bản kiến nghị của Hội Nhà báo, phải nhanh chóng điều tra, xác minh, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác định sự thật khách quan, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục ý thức tôn trọng đối với cơ quan báo chí và nhà báo. Trên thực tế, một số vụ vi phạm vừa qua, các cơ quan này cũng đã có các biện pháp xử lý kịp thời, nhưng vẫn có trường hợp xử lý chưa nghiêm, chưa triệt để, dẫn đến hậu quả là các nhà báo chưa được bảo vệ một cách hữu hiệu và tình trạng xâm hại quyền lợi của nhà báo vẫn tiếp diễn, gây dư luận bất bình trong xã hội.

Thứ ba, có thể nghiên cứu về cơ chế phối hợp giữa Hội Nhà báo với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc bảo vệ quyền hành nghề của nhà báo đấu tranh phòng chống tham nhũng. Hình thức phối hợp có thể là bằng văn bản, trong đó gồm các quy định về mục đích, nguyên tắc phối hợp, các điều kiện và biện pháp phối hợp, các quyền và nghĩa vụ  cơ bản của Hội Nhà báo cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc thực hiện các quy định của Luật báo chí, Luật phòng chống tham nhũng. Văn bản này có giá trị pháp lý, tạo điều kiện để các nhà báo yên tâm hoạt động tác nghiệp, có đủ bản lĩnh dấn thân thực hiện tác nghiệp, đấu tranh có hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. Vừa qua, việc Dự thảo nghị định quy định điều kiện về an ninh, trật tự, công tác quản lý nhà nước, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan và biện pháp thi hành đối với hoạt động kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị đã khiến dư luận không đồng tình. Nhiều nhà báo đã có ý kiến phản hồi cho rằng các quy định này đã hạn chế hoạt động tác nghiệp của nhà báo trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Những ý kiến này cần được tham khảo, tiếp thu để chỉnh sửa nội dung nghị định cho phù hợp.

Luật sư Nguyễn Minh Tâm, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam