Chiến trường đã làm nên tôi hôm nay

Thứ hai, ngày 29 tháng 4 năm 2019 | 9:41:11

“Không chỉ tôi mà nhiều đồng đội ở Sư đoàn 320 vẫn thường xúc động nhớ về ngày 29/4, ngày mà Sư đoàn tiến công vào căn cứ Đồng Dù – cũng là ngày gần 200 chiến sĩ ra đi mãi mãi. Đêm ấy, khi chôn cất cho đồng đội xong, nhìn về trung tâm thành phố, tôi thấy thật xót xa cho người ngã xuống hôm nay bởi chỉ ngày mai thôi chiến thắng sẽ về”.

Đại tá, nhà văn, nhà báo Khuất Quang Thụy - Tổng Biên tập Báo Văn nghệ, người có mặt tại Dinh Độc lập ngày 30/4/1975 xúc động chia sẻ như thế với tôi trong những ngày tháng 4 lịch sử này.

Đại tá, nhà văn, nhà báo Khuất Quang Thụy - (Ảnh: NVCC)

1. Liên hệ với nhà báo Khuất Quang Thụy qua điện thoại với mong muốn được gặp ông để nghe một người trong cuộc chia sẻ về những kỉ niệm của một thời không thể nào quên, thú thật tôi cũng hơi ngại. Bởi, đây là thời gian mà ngoài công việc quản lý, sáng tác, ông còn bận rộn với những đợt họp mặt đồng ngũ để ôn lại thời chiến cũng như tưởng niệm những đồng đội đã hy sinh. Nhưng rồi ở đầu dây bên kia vang lên một giọng nói xứ Đoài ấm áp, chân chất khiến tôi lại càng tự tin đến gặp ông.

Đến “đại bản doanh” của Báo Văn nghệ (số 17 - Trần Quốc Toản - Hà Nội), vị Tổng Biên tập đang miệt mài với một “núi” bản thảo. Nhưng khi có khách đến, ông gác lại mọi chuyện vui vẻ tiếp tôi bằng thứ nước chè có ướp hoa nhài thơm ngát. Căn phòng giản dị, đơn sơ chẳng có gì ngoài những đầu sách dày dặn được sắp xếp ngăn nắp, khoa học, trong đó đa phần là những cuốn sách về chiến tranh.

Phúc Thọ - Hà Tây (cũ) quê ông là một vùng quê nghèo với những triền đề, bãi cỏ, những cánh đồng bát ngát, bao la được ôm trọn bởi dòng sông Đáy hiền hòa, thơ mộng, nên thơ. Ông “khoe” ở nơi đó đã dựng sẵn một ngôi nhà nhỏ, có vườn cây rộng rãi, thoáng mát và chỉ chờ hết nhiệm kì Tổng Biên tập là ông cùng người bạn đời của mình sẽ về quê “an nhàn tuổi già”. Còn hiện tại, như đã thành thói quen, cứ mỗi dịp cuối tuần ông lại rời xa phố phường tấp nập, rời xa công việc bộn bề để được sống thanh thản, bình yên nơi quê nhà. Dường như đó cũng là cách để nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tác trong người văn sĩ xứ Đoài ấy.

Tháng 3/1967, chàng thanh niên Khuất Quang Thụy tình nguyện vào chiến trường và được phân công vào Sư đoàn 320 với nhiệm vụ của một người lính trinh sát. Tuy nhiên trong môi trường chiến tranh ác liệt, phải chứng kiến đồng đội của mình hy sinh đã thôi thúc ông đã cầm bút để ghi lại cuộc chiến một cách tỉ mỉ, sinh động nhất. Nhờ vậy, ông đã được dự Trại sáng tác của Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1971, ông được điều về làm tờ tin của Sư đoàn và sau ngày hòa bình lập lại ông được cử đi học khóa 1 Trường Viết văn Nguyễn Du (nay là Đại học Văn hóa). Sau khi tốt nghiệp ông về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội lần lượt trải qua các chức vụ Biên tập viên, Trưởng Ban Văn xuôi rồi Phó Tổng Biên tập. Hết tuổi quân ngũ, được sự tín nhiệm của Hội Nhà văn Việt Nam, ông về giữ chức Tổng Biên tập Báo Văn nghệ cho đến nay.

Niềm đam mê viết lách còn được người em trai của ông, Đại tá, nhà báo Khuất Quang Thảo, Tổng Biên tập Báo Quốc phòng Thủ đô gìn giữ và tiếp nối. Không dừng ở đó, “hổ phụ” Khuất Quang Thụy còn sinh ra “hổ tử” Khuất Vân Huyền, nhà biên kịch được biết đến với nhiều kịch bản gây được tiếng vang, trong đó được biết đến hơn cả là kịch bản của bộ phim “Cô gái đến từ Băng Cốc”.

2. Có lẽ cuộc đời viết văn, làm báo của ông vinh dự nhất là được có mặt tại Dinh Độc lập ngày 30/4/1975. Ông kể thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ông đã ở cửa sau Dinh. Dù đã có lệnh ngừng bắn nhưng vẫn vấp phải sự kháng cự của lính Việt Nam Cộng hòa khiến một vài đồng đội của ông bị thương ở ngã tư Bảy Hiền và ngay trước cửa Dinh. Ông cùng Sư đoàn tiến vào hậu Dinh theo hướng Tây Bắc từ rất sớm, tuy nhiên sau khi cắm lá cờ cỡ nhỏ lên cổng sắt phụ hậu Dinh, Sư đoàn ông liền tập trung đào giao thông hào quanh cồn đất cao phía sau Dinh để chuẩn bị ngăn địch phản kích cho đến khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng.

Nhà báo Khuất Quang Thụy nhớ lại: “Lúc đó cánh nhà báo trong và ngoài nước kéo đến rất đông song bị đồng chí Tiểu đoàn phó giải tán. Bởi với người lính trận, lúc ấy vẫn còn chiến sự. Đã vào cổng hậu lại không có dù chỉ một bức ảnh để chứng minh nhưng lính Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 cũng tự hào rằng là những người vớ được nhiều kỷ vật của Dương Văn Minh nhất. Từ mấy thứ quà tặng nho nhỏ tới vài chiếc bật lửa, hay hũ rượu quý và nhiều chiếc radio loại nhỏ. Hân hoan mừng chiến thắng, quân sĩ lấy rượu ra uống say khướt. Tiểu đoàn phó còn rộng tay phát mỗi người một chiếc ra radio. Nhưng sau lãnh đạo Sư đoàn xuống kỉ luật một loạt quân sĩ và quyết định thu lại toàn bộ những kỉ vật đó nên chúng tôi nói vui với nhau: Đây là loại đài vừa phát vừa thu”.

Xe tăng Quân Giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập ngày 30/4/1975 - (Ảnh: Tư liệu)

 Cũng tại thời khắc lịch sử ấy, qua trò chuyện với một số đồng nghiệp ở TTXVN, cánh anh em nhà báo đã nhận ra Khuất Quang Thụy - tác giả của nhiều bài báo, bút ký, truyện ngắn được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Văn nghệ. Biết ông đi từ hướng Đồng Dù (Củ Chi) tiến vào, một đồng nghiệp ở TTXVN đã khẩn thiết đề nghị ông tường thuật cuộc hành quân. Thế là ông về hậu Dinh, vào Văn phòng Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa lấy luôn tập giấy tiêu đề còn nguyên mấy chữ “Đổng lý văn phòng Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa” ở đầu trang để viết bài lược thuật trận Đồng Dù. Sợ đồng nghiệp khó đọc ông đã cố tình viết nắn nót và chữ rất to. Sau này ông có nghe nói, bản tin của mình đã được phát trên sóng của TTXVN ngay ngày hôm sau. Tuy nhiên, tiếc rằng các đồng nghiệp ở TTXVN đã không giữ lại bản thảo ấy cho ông, nếu không đó đã là kỷ vật lịch sử vô cùng quý giá với Bảo tàng Báo chí Việt Nam nói riêng, với người làm báo Việt Nam nói chung.

3. Trong chiến trường, mặc dù đã là cây bút nổi danh nhưng ông vẫn chưa có một “mảnh tình vắt vai”. Sau ngày giải phóng, ông mới trở về quê tìm… vợ để mẹ già có cháu bế bồng. Tuy nhiên ở “mặt trận” này, Khuất Quang Thụy cũng gặp không ít khó khăn khi liền một lúc ông đã bị 4 cô gái khước từ bởi 3 lý do: Thứ nhất là lúc ấy dù đã gần chục năm chiến đấu mà ông mới chỉ là… Thượng sĩ. Thứ hai, các cô đều chê anh “quê mùa” hơn cả những gã nhà quê, vì sau từng ấy năm chiến chinh phải nếm đủ mùi đói khát, đạn bom, sốt rét…, “nhan sắc” ông đã bị “xuống cấp”, gầy và đen. Thứ ba, bà mẹ của ông sau bao nhiêu năm khóc lóc mòn mỏi ngóng con đã sinh đau ốm liên miên và đó sẽ là một gánh nặng lớn cho người dâu trưởng, nhất là sau ngày cưới, chồng rất có thể sẽ lại ra đi chưa biết lúc nào trở về.

Thế nhưng giữa lúc Khuất Quang Thụy đang chán chường vì chuyện đại sự không thành thì có một cô gái xinh đẹp tên Liên đã tình nguyện lấy chàng “Thượng sĩ quèn”. Một mái ấm gia đình đã là hậu phương vững chắc để Khuất Quang Thụy vững vàng, tự tin đi trên con đường viết lách đầy thách thức, chông gai những cũng rất đỗi vinh quang, tự hào. Luôn cảm thấy mình là người may mắn được trở về sau chiến trận và đồng đội ngã xuống để mình được trở về, vì thế Khuất Quang Thụy đã quyết định gắn bó cả cuộc đời mình với chủ đề chiến tranh như để tri ân những người đồng chí, đồng đội. Đã có lần ông từng viết “... Khi còn ở chiến trường, tôi chỉ viết vì một khát khao duy nhất, ghi được càng nhiều càng tốt những kỷ niệm, những con người, những cảnh ngộ, số phận éo le do sự khắc nghiệt của chiến tranh đưa đến. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, tôi mới có điều kiện để hiểu ra rằng, dù đã ở ngoài mặt trận, dù đã thấy được cái ác liệt và dù đã viết nhiều trang nhưng có lẽ vẫn chưa nói hết được... Cả đời chỉ loay hoay viết về cuộc chiến ấy, có lẽ là số phận của thế hệ những người cầm bút từng có những năm cầm súng như chúng tôi...”.

Trong khoảng thời gian gần một tiếng đồng hồ được trò chuyện cùng ông, tôi cũng thầm hiểu rằng từ tận đáy lòng mình, Khuất Quang Thụy luôn cám ơn chiến trường đã làm nên ông hôm nay. Được hiểu thêm về cuộc sống, chiến đấu của những người cầm bút trong chiến trường, tôi- một người được sinh ra và cầm bút trong hòa bình sẽ ý thức hơn, trách nhiệm hơn, sâu sát hơn với công việc mà mình đang làm sao cho xứng đáng với thế hệ cầm bút cha anh./.

Thiên An/ Cổng TTĐT Hội Nhà báo Việt Nam