Chuyên gia Nhật phản pháo về hoài nghi công nghệ làm sạch sông Tô Lịch

Thứ tư, ngày 22 tháng 5 năm 2019 | 9:8:55

Mới đây, hệ thống máy lọc công nghệ Nano - Bioreactor được đặt xuống lòng sông Tô Lịch và một góc hồ Tây để giải quyết tình trạng ô nhiễm nguồn nước. Nhiều chuyên gia Việt nghi ngờ hiệu quả của công nghệ này, tuy nhiên tiến sĩ Tadashi Yamamura (chuyên gia Liên Hợp Quốc về môi trường) đã có những chia sẻ thẳng thắn về công nghệ mới này.

Ông có thể chia sẻ về cách thức hoạt động của công nghệ Nano - Bioreactor (công nghệ làm sạch nước sông Tô Lịch)?

- Hiện nay, sông Tô Lịch mất khả năng tự làm sạch. Qua khảo sát chúng tôi thấy hiện trạng sông Tô Lịch lúc này là: mùi hôi thối nồng nặc bốc lên hàng ngày, hàng giờ; lượng bùn tích tụ ở tầng đáy dày 1-1.5m; chất lượng nước theo chỉ số COD, NH4+... quá mức cho phép.

Công nghệ Nano - Bioreactor sử dụng các vật liệu tự nhiên Bioreactor. Chúng là chất xúc tác ở dạng bột tán ở dạng tổ ong. Chúng tôi đưa vào để cung cấp giá thể, để tạo môi trường sống cho vi sinh vật. Nó không chứa vi sinh vật và nó cũng không phải là vi sinh vật. Nó hoàn toàn khác với các công nghệ nuôi - cấy vi sinh vật. 

Một số chuyên gia cho rằng "khi sử dụng công nghệ Nano - Bioreactor phải thường xuyên bổ sung các vi sinh và hoạt động liên tiếp" là không chính xác.

 

Tiến sĩ Tadashi Yamamura (chuyên gia Liên Hợp Quốc về môi trường) 

Với quan điểm "Sông Tô Lịch vẫn là một con sông chết, không có khả năng tự làm sạch. Đây là cách làm sạch nhân tạo. Việc tiêu hủy hoàn toàn lớp bùn của sông là hành động giết chết hệ sinh thái của dòng sông".  Ông nghĩ như thế nào?

- Họ hiểu sai về công nghệ Nano - Bioreactor. Họ cho rằng sông Tô Lịch giống như người bệnh, cứ phải bơm oxi liên tục và ngừng bơm là chết (tức là lại ô nhiễm) là hoàn toàn không chính xác. 

Nồng độ oxi trong nước sông Tô Lịch hiện tại đo được là 11.35, trong khi đó tiêu chuẩn nồng độ oxi trong nước là 6. Công nghệ nano tạo ra oxi trực tiếp kích hoạt các vi sinh vật hiếu khí, yếu tố công nghệ Bioreactor kích hoạt các vi sinh vật kị khí và cả 2 yếu tố này đều tạo ra oxi.

Đặc biệt yếu tố Bioreactor có khả năng kích hoạt gần như 100% các vi sinh vật trong môi trường. Các vi sinh vật làm nhiệm vụ tiết ra enzim, chúng làm điện ly các phân tử nước để giải phóng oxi trong nước. Bản thân công nghệ này tạo thành hệ thống tăng khả năng tự làm sạch của dòng sông.

          

Nhiều người cho rằng: Để xử lý căn cốt vẫn phải là xử lý nguồn xả thải vào dòng sông. Các biện pháp khác cũng chỉ là nhất thời?

- Công nghệ Nano-Bioreactor khác hoàn toàn với công nghệ xây dựng hệ thống thu gom tách nước thải để đưa về nhà máy xử lý nước thải tập trung, công nghệ này chỉ xử lý được nước thu gom, nước bên ngoài chứ không xử lý nước từ bên trong lòng sông.

Còn công nghệ Nano-Bioreactor là công nghệ xử lý nước thải đặt ngay trong lòng sông, có công suất xử lý lên tới 1.350.000m3/ngày đêm, gấp 9 lần lượng nước thải hàng ngày chưa qua xử lý chạy vào sông Tô Lịch, tốc độ xử lý đạt gấp 6 lần tốc độ âm thanh.

Nước thải khi chảy vào sông sẽ như là chảy vào nhà máy xử lý nước thải, mà lượng chảy vào chỉ bằng 1/9 lượng công suất xử lý nên hệ thống này sẽ xử lý triệt để nước ô nhiễm của sông Tô Lịch.

         

Mức độ tốn kém của công nghệ Nano - Bioreactor như thế nào?

- Hệ thống Bioreactor chỉ dùng điện 6h/ngày so với mức tiêu thụ điện năng của hệ thống công nghệ khác thì công nghệ này đỡ tốn kém. Chúng tôi sẽ nghiên cứu đặc điểm hệ thống xả thải nước để lắp đặt máy móc với công suất phù hợp, tiết kiệm.

Xây dựng hệ thống nhà máy xử lý rác thải 10.000m3/ngày đêm cần 3ha đất thời gian xây dựng kéo dài 8 năm với số tiền đầu tư là 38,5 triệu USD (870 tỉ đồng). Trong khi công nghệ này có khả năng xử lý đến 1.250.000 m3 (gấp hơn 100 lần) trong khi số tiền chỉ bằng 1/10, không cần sử dụng đất, lắp đặt trong vòng hai tháng. Chi phí trả cho nhà máy xử lý rác thải theo khối nước xử lý. Công nghệ Nhật Bản có chi phí đầu tư ít, chi phí duy trì thấp (chi phí điện).

Cảm ơn ông về những chia sẻ này!

Theo Lao Động