Đề xuất phí chia tay: Còn nhiều tranh cãi

Chủ nhật, ngày 16 tháng 6 năm 2019 | 20:48:7

Mặc dù đại biểu Nguyễn Quốc Hưng, người đề xuất “phí chia tay” cho rằng: nếu đóng thì "chỉ bằng bữa ăn sáng" của một người. Tuy nhiên, đề xuất này cũng đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ phía dư luận xã hội.

Thảo luận về dự án Luật Xuất cảnh, Nhập cảnh của công dân Việt Nam ngày 12/6, đại biểu Quốc hội Nguyễn Quốc Hưng (nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch) đề xuất thu "phí chia tay" khi công dân xuất cảnh với mức khoảng 3-5 USD/người mỗi lần. Ông cho biết: “Tôi suy nghĩ Việt Nam cũng giống một số nước là khi công dân ra nước ngoài thì có trách nhiệm đóng góp một khoản tiền gọi là “phí chia tay””.

Đề xuất này cũng đã nhận được một số ý kiến đồng tình ví dụ như ý kiến của ông Ngô Hoài Chung- Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch. Ông Chung nhấn mạnh, ông hoàn toàn ủng hộ đề xuất thu phí visa khi ra nước ngoài hay còn gọi là "phí chia tay", tuy nhiên ông cũng gợi ý nên tính toán thu bao nhiêu là hợp lý. Ông Chung cho rằng, mức phí ở mức 1 USD hoặc 2 USD là phù hợp. Thêm vào đó, cũng có người cho rằng, khoản thu nhằm sử dụng cho vấn đề bảo hộ, đảm bảo quyền lợi của công dân khi ở nước ngoài, nâng cao chất lượng phục vụ hoạt động xuất nhập cảnh là hợp lý nhưng cần phải đặt lại tên khoản thu này, không nên gọi là “phí chia tay”.

Tuy nhiên, cũng có không ít ý kiến tỏ ra chưa đồng tình với đề xuất trên. Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu thì nhấn mạnh, khi làm thủ tục để xuất cảnh, công dân đã trả lệ phí cho các thủ tục hành chính. Theo ông, việc yêu cầu đóng thêm một khoản phí dù rất nhỏ để bảo hộ công dân, nâng cao công tác xuất cảnh hay xúc tiến, quảng bá du lịch đều không hợp lý. Theo TS Hiếu, việc bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của các Đại sứ quán và Nhà nước nên không thể đề xuất người dân đóng thêm một khoản phí khi xuất cảnh cho mục đích này. Còn về mục đích đầu tư nâng cấp máy móc để đảm bảo việc xuất nhập cảnh cho công dân được tốt hơn, ông Hiếu cũng cho rằng cơ quan chức năng đã có ngân sách dành cho việc đó nên không thể áp dụng thêm "phí chia tay".

Trong bối cảnh cuộc sống người dân không ít chật vật với giá cả, với thuế phí, thì việc thu thêm một khoản phí cần nên cân nhắc sao cho phù hợp nhất. Theo ý kiến của Đại biểu Phạm Tất Thắng (đoàn Vĩnh Long), có nhiều nước áp dụng mức phí này nhưng mỗi nước mỗi khác. Tốt ở nước này nhưng chưa chắc hiệu quả ở nước kia. Vì vậy, khi áp dụng kinh nghiệm của nước khác vào Việt Nam cần phải đánh giá, cân nhắc thận trọng chứ chưa thể quyết định ngay là có áp dụng đề xuất đó hay không.

Bên cạnh đó, nhiều người cũng nhấn mạnh, nếu thu đúng, chi đúng, công khai cho toàn dân được biết thì đây là một giải pháp rất đáng cân nhắc. Bởi chỉ đóng vài USD để đổi lại dịch vụ tốt hơn, hạ tầng tốt hơn thì mỗi công dân sẽ thấy được khoản đóng góp nhỏ bé của mình là phù hợp và mang lại ý nghĩa lớn.

Cổng TTĐT Hội Nhà báo Việt Nam xin được giới thiệu bài: “Làm sao ‘chia tay’ mất phí nhưng không buồn” đã đăng trên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh.

---------------------------------------------------------------------------

Làm sao ‘chia tay’ mất phí nhưng không buồn

Việc thu phí xuất cảnh hay gọi nôm na theo ĐB Nguyễn Quốc Hưng là “phí chia tay” nghe qua tưởng chừng đơn giản nhưng phải thận trọng.

Xét về động cơ, việc thu phí người xuất cảnh để góp phần bảo hộ, hỗ trợ khi công dân ra nước ngoài gặp khó khăn; đầu tư, nâng cấp máy móc, kỹ thuật đảm bảo thuận lợi cho công dân khi xuất nhập cảnh; đóng góp vào quỹ phát triển du lịch để góp phần quảng bá hình ảnh VN ra nước ngoài… là hợp lý. Tuy nhiên, động cơ tốt chưa chắc dẫn đến hiệu quả tốt của chính sách nếu không có kế hoạch hợp lý.

Thứ nhất, nếu áp thuế xuất cảnh thì cần cân nhắc cả đối tượng người nước ngoài chứ không chỉ với công dân VN. Ngay như tại Nhật Bản, “thuế chia tay” (sayonara tax) cũng áp dụng cho cả công dân nước ngoài khi xuất cảnh khỏi Nhật Bản (du khách, người lao động nước ngoài, du học sinh…).

Ở nhiều nước khác, trong khi họ chưa cân nhắc việc đánh thuế xuất cảnh với công dân bản địa thì du khách quốc tế là đối tượng đóng thuế trước tiên. Tất nhiên, thuế du lịch có nhiều hình thức, tên gọi, cơ chế thu khác nhau nhưng tựu trung đều phục vụ mục đích cải thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ xuất nhập cảnh và du lịch.

Thứ hai, cần minh định cơ sở nào để xác định mức phí 3-5 USD/người. Cần có những điều tra, khảo sát, đối chiếu để đảm bảo mức phí không làm thay đổi nhu cầu xuất nhập cảnh của công dân VN lẫn nước ngoài. Đặc biệt, số tiền thu về hằng năm có thể lên đến hàng chục triệu USD (nếu áp dụng cho tất cả đối tượng xuất cảnh) thì cách thức thu thuế; cơ chế quản lý, phân bổ nguồn thuế thu được phải đảm bảo tính minh bạch, chống thất thoát hay sử dụng sai mục đích.

Các nước thu thuế này thường thông qua các tổ chức trung gian (các cơ quan điều hành du lịch trong nước và ở nước ngoài), kênh chủ yếu là thông qua việc mua vé máy bay, vé tàu hay phương tiện xuất cảnh khác. Nếu không có một cơ chế giám sát đồng bộ, minh bạch thì việc rò rỉ, thất thoát dễ xảy ra.

Vấn đề quan trọng không kém chính là sử dụng nguồn thuế. Trước khi nghĩ đến việc thu tiền, cơ quan chức năng cần có kế hoạch thực hiện các mục tiêu đưa ra, trong đó lấy lợi ích của người xuất cảnh, hình ảnh du lịch VN làm trung tâm. Phải đảm bảo việc thu thuế song song với việc cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao phúc lợi người dân.

Cũng cần nhớ là rất ít quốc gia trên thế giới thu loại thuế này, ngay cả Nhật cũng chỉ mới bắt đầu từ tháng 1-2019 khi họ đã trải qua một thời gian dài nghiên cứu, đầu tư vào hạ tầng lẫn thượng tầng ngành du lịch.

Đóng vài USD để đổi lại dịch vụ tốt hơn, không khí phấn khởi hơn, hạ tầng tốt hơn thì dẫu có phải “chia tay” cũng sẽ không buồn, ngược lại là chuyện khác.

Theo Đại Thắng/ báo Pháp luật TP HCM