Hai câu chuyện nghề

Thứ năm, ngày 12 tháng 4 năm 2018 | 15:53:7

Chuyện thứ nhất: Tôi không nhớ rõ thời gian, khoảng tháng 7 năm 1985 gì đó, chỉ vài tháng sau khi tôi về nhận công tác tại Phòng biên tập Quân sự Báo Quân đội nhân dân thì có 2 nữ phóng viên truyền hình CNN Mỹ đến làm việc với Tổng biên tập, Thiếu tướng Trần Công Mân. Sau khi làm việc xong họ đề nghị ông cho gặp lại những phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã từng trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam.

Chúng tôi có 3 người Đặng Đình Thi, anh Phạm Minh Châu và tôi. Tôi là người trẻ nhất và lại mới về báo, có lẽ vì thế ông gọi tôi lên phòng và hỏi: "Cậu đã tiếp xúc với phóng viên báo chí phương Tây chưa?". Tôi ngập ngừng. Ông lại nói tiếp: "Vậy thì phải chuẩn bị một chút. Phóng viên phương Tây họ phỏng vấn không hỏi trực tiếp như phóng viên ta đâu. Họ thường dùng thủ thuật đòn bẩy"... Thú thật tôi mới vào nghề lại lần đầu trực tiếp gặp gỡ phóng viên nước ngoài nên hơi run.

Thế rồi cuộc trò chuyện giữa ba chúng tôi với hai nữ phóng viên CNN cũng diễn ra bình thường như các cuộc gặp khác. Họ hỏi chúng tôi đủ thứ chuyện quá khứ, hiện tại, gia đình, công việc đang làm... Cô phóng viên ngồi bên cạnh tôi còn chăm chú ký họa lại đôi giày vải cao cổ tôi đang đi. Vẽ xong cô ta gạch nhăng nhít, tua tủa những đường bút dưới đế giày. Nhìn thoáng qua, trông đôi giày của tôi như đang ngập dưới đám cỏ.

Câu chuyện chưa vãn nhưng có lẽ cũng đã dài, họ chủ động đứng lên chia tay chúng tôi. Khi sắp bước xuống cầu thang, bỗng cô phóng viên ngồi cạnh tôi quay ngoắt lại hỏi: "Này anh, chiến tranh đã qua đi mười năm rồi, vậy có khi nào trong giấc ngủ anh mơ thấy những đồng đội đã chết hiện ra với anh không?". Một thoáng bối rối trước câu hỏi bất ngờ ấy, nhưng tôi kịp trấn tĩnh lại và nhìn thẳng vào mặt cô ta: "Có, có chứ. Chúng tôi gặp nhau thường xuyên, cả người đã hi sinh và người đang sống. Có lần chúng tôi còn gặp nhau trên một đại lộ ở Oa-sinh-tơn. Rất nhiều cựu chiến binh Mỹ khập khiễng trên đôi nạng gỗ thấy chúng tôi họ ùa đến nắm chặt tay chúng tôi lắp bắp: "Sorry Việt Nam! Sorry... Việt Nam!!". Nghe vậy, cô phóng viên nọ dướn lông mày, nhún vai, bước xuống cầu thang không nói thêm một lời nào.

Hai nữ phóng viên CNN đi rồi ông lại gặp tôi hỏi chuyện. Tôi kể lại chi tiết cuộc nói chuyện và câu hỏi bất ngờ của cô phóng viên khi bước xuống cầu thang. Ông cười thú vị "Đấy! Chi tiết báo chí là chỗ đấy. Nếu cậu trả lời cũng bị "ám ảnh" là họ đạt được ý định rồi. Chiến tranh đã qua đi mười năm nhưng ở nước Mỹ hội chứng chiến tranh Việt Nam mới bắt đầu. Họ định đánh đồng nỗi đau của kẻ đi xâm lược với sự hi sinh của người chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc".

Tôi đứng chôn chân trước những lời ông nói. Bài học đầu tiên bước vào nghề của tôi thấm thía, như vậy đó!

Chuyện thứ hai: Đó là một ngày trung tuần tháng 4 năm 1988, tôi lên chiếc tàu Mỹ Á ra Trường Sa. Những ngày đó cả nước đang hướng về Trường Sa, nơi những chiến sĩ đã và đang đổ máu để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Sau chuyến đi đó tôi hoàn thành một bút ký dài kỳ với tiêu đề "Ghi chép ở Trường Sa". Trước khi đưa lên Tổng biên tập, tôi đưa cho anh trưởng phòng quân sự đọc góp ý. Anh Đình khen tôi: "Cậu có con mắt của một người lính đã trực tiếp chiến đấu nên bài viết giàu chất liệu thực tế và nỗi đau của đồng đội". Tôi mừng thầm và cầm bản thảo lên gặp Tổng biên tập Trần Công Mân. Chỉ một tiếng sau, ông gọi tôi lên phòng và trao lại cho tôi bản thảo. Tôi có thói quen liếc mắt lên góc trái bản thảo và bắt gặp nét chữ đỏ "Viết lại". Hiểu tính ông nên tôi không dám hỏi gì thêm và lặng lẽ cầm bản thảo về phòng. Phải thừa nhận, ông đọc nhanh, nhìn những dấu đỏ trên bản thảo là biết ngay ông không bỏ sót một dòng nào.

Cũng phải mất một ngày sau, tôi dở bài viết ra làm lại, gia công rất nhiều, nhất là những trang viết về sự hi sinh của các chiến sĩ Trường Sa, cũng như lần đầu, tôi đem bản thảo lên nộp ông. Cũng lại 1 tiếng sau ông gọi tôi lên, lần này thì ông ôn tồn bảo tôi ngồi xuống rồi đưa tôi bản thảo. Xem lại bản thảo, trên góc trái đã ký chữ "m". Nhiều đoạn ông gạch nhăm nhở, đánh dấu hỏi. Nhất là những trang tôi miêu tả cảnh hàng ngày đều đặn sáng, chiều những chiến sĩ trên đảo Trường Sa xếp hàng mặc niệm trước bốn ngôi mộ của 4 chiến sĩ vừa mới hi sinh. Đọc đến đoạn đó hầu như ai cũng rưng rưng nước mắt. Khi tôi chưa kịp hiểu thì ông đã nói: "Viết lại những đoạn tôi đánh dấu hỏi, tôi gạch dọc lề... Người làm báo không nên khóc thay cho nhân vật, sự kiện. Nếu nước mắt mà làm thế giới không còn chiến tranh thì trái đất sẽ ngập chìm trong nước mắt. Ngòi bút là vũ khí của nhà báo, vũ khí phải sắc, phải nhọn mới chiến thắng được kẻ thù".

Ông nhìn tôi thật nghiêm khắc, rồi lại nói tiếp: "Hai người cùng nhìn xuống, một người nhìn thấy vũng nước, còn nhà báo thì nhìn thấy những vì sao".

Thế đấy! Gần 30 năm trôi qua, cuộc đời làm báo đã cho tôi đặt chân lên nhiều miền quê của Tổ quốc và gặp nhiều bạn bè đồng nghiệp. Mỗi lần như thế, ngọn lửa nghề nghiệp lại cháy lên trong tôi, và lần nào tôi cũng bắt đầu với bè bạn bằng hai câu chuyện ngày tôi mới chập chững khi bước chân vào làng Báo.

Nhà báo Hồ Anh Thắng- Phó Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân/ Tham luận của Nhà báo Hồ Anh Thắng​ tại Hội thảo “Nhà báo Trần Công Mân với báo chí cách mạng Việt Nam”