Hội thảo "Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí" (28/4/2017)

Thứ ba, ngày 23 tháng 5 năm 2017 | 11:36:13

BÁO CHÍ VỚI VIỆC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG VÀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN HÀNH NGHỀ CỦA NHÀ BÁO

Kết quả hình ảnh cho nhà báo nguyễn thành lợi

Nhà báo Nguyễn Thành Lợi 

Vai trò của báo chí truyền thông

Thống kê của Liên hợp quốc cho thấy, vấn nạn “tham nhũng của chính phủ” đã khiến mỗi năm toàn thế giới thiệt hại 600 tỉ USD. Hay nói cách khác, mỗi ngày sau khi mặt trời lặn, quan chức tham ô trên toàn cầu lại cuốn đi 1.643 tỉ USD. Và hiện tượng tham nhũng giống như cảm cúm, không quốc gia nào trên thế giới có thể miễn dịch hoàn toàn. Hiện tượng tham ô được lan truyền khắp nơi, thậm chí đã đạt đến bước “toàn cầu hóa”. Để ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng, các nước trên thế giới đều áp dụng các biện pháp, bao gồm xây dựng thể chế kinh tế lấy thị trường làm định hướng, ngăn chặn các hoạt động giao dịch quyền – tiền; Cải cách thể chế quản lý, ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng quyền lực; Tăng cường vai trò của cơ quan giám sát, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với quan chức. Những chính sách này đã phản ánh quan niệm cải cách tổng hợp, thông qua quy trình của chính phủ và sự tham gia của người dân để tuyên chiến với nạn tham nhũng. Trong đó, báo chí có vai trò hết sức quan trọng. Các chuyên gia trong vấn đề chống tham nhũng quốc tế đã khẳng định từ lâu rằng: “Người dân và báo chí phát huy vai trò hết sức quan trọng trong việc ngăn ngừa các hoạt động lừa đảo và hiện tượng tham nhũng trong đời sống cộng”. Tại các quốc gia trên thế giới, báo chí đã trở thành lực lượng phòng, chống tham nhũng không thể coi nhẹ.

Cách thức để ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng của báo chí

Để phát huy tốt hơn chức năng phòng, chống tham nhũng của báo chí, nhiều nước đã áp dụng các biện pháp để tăng cường vai trò của báo chí. Có thể khái quát một số hình thức ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng của báo chí thế giới như sau:

Thứ nhất, vạch trần quan chức và công chức tham nhũng. Vai trò ngăn chặn nạn tham nhũng của báo chí được thể hiện nhiều nhất ở những bản tin, bài viết về vấn đề tham nhũng sẽ gây chấn động trong công chúng, gây sức ép, buộc cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành điều tra, xử phạt nghiêm minh những kẻ tham ô, nhận hối lộ hoặc cách chức họ. Một số lãnh đạo của các nước như: Tổng thống Ecuado Bucaram Ortiz bị  buộc phải từ chức, Tổng thống Venuezuela Pérez Rodríguez và Tổng thống Brazil Fernando Affonso Collor de Mello bị phế truất…những sự kiện đó đều có mối liên  hệ trực tiếp và sự phanh phui của báo chí. Sau một thời gian điều tra, một tờ báo ở Ecuado đã đưa tin, tổng thống nước này biển thủ tiền họ huy động để làm chương trình truyền hình trong dịp Noel, và khoản tiền này dự định mang ra quyên góp cho người nghèo. Sau khi bị phanh phui, sự việc đã gây chấn động dư luận Ecuado, ông Bucaram Ortiz đã bị buộc phải từ chức do  “tinh thần không cân bằng”. Tờ Nhật báo Caracas  của Venuezuela đã đưa tin về hành vi phi pháp của Tổng thống Pérez Rodríguez tự sử dụng nguồn ngân sách quốc gia trong khi chưa được quốc hội phê chuẩn, một tờ báo khác cũng chỉ ra rằng, Tổng thống Venuezuela Pérez Rodríguez và 2 trợ lý của ông đã buôn bán ngoại tệ và kiếm được hàng trăm nghìn USD. Trước khi quy trình phế truất của quốc hội được khởi động, ông Pérez Rodríguez buộc phải từ chức, sau đó lại bị bắt giam. Ngày 13-5-1993, trong thời gian diễn ra Đại hội Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro, em trai Tổng thống Fernando Affonso Collor de Mello đã tiết lộ với Tạp chí Độc giả - tạp chí có ảnh hưởng lớn nhất ở Brazil về vụ việc anh trai mình đã cấu kết với tỉ phú Paulo Cesar Farias và có những hành vi vi phạm pháp luật. Thông tin vừa được tung ra đã gây chấn động cả đất nước Brazil. Trước sức ép của dư luận, ông Fernando Collor de Melo buộc phải đồng ý để cơ quan chức năng điều tra những hành vi của Paulo Cesar Farias. Đầu tháng 6-1992, Quốc hội Brazil thành lập Ủy ban điều tra “chuyên án Paulo Cesar Farias” và bắt tay vào cuộc điều tra có quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử Brazil. Bằng chứng điều tra của cảnh sát, kết quả điều trần của quốc hội cộng với những tài liệu được phóng viên săn lùng khắp nơi… đã dần dần phác họa lên diện mạo xấu xa của Fernando Collor de Melo trở thành vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Brazil và Mỹ La tinh bị phế truất.

Thứ hai, thúc đẩy cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra. Các bản tin của báo chí còn có thể trở thành nhân tố thúc đẩy cơ quan có thẩm quyền tiến hành các cuộc điều tra chính thức. Năm 1996, tờ Miami Herald của Mỹ đã đăng tải chuỗi bài vạch trần hành vi tham nhũng của một ngân hàng Mỹ  đã phá hoại cả tiến trình dân chủ của châu Mỹ. Sau khi chuỗi bài này được đăng tải, Bộ Tư pháp Mỹ chính thức lập án điều tra ngân hàng đó. Cũng giống tờ Miami Herald, tờ The Dallas’s Morning News của Mỹ đưa tin, quan chức cao cấp của trường công lập Dallas có những sai phạm trong quá trình quản lý, khiến Cục điều tra Liên bang (FBI) phải ra tay tiến hành điều tra hành vi tham nhũng của trường này. Sau khi vụ bê bối liên quan đến tham nhũng của Tổng thống Brazil Fernando Collor de Melo bị phanh phui, Quốc hội nước này cũng thành lập Ủy ban điều tra “chuyên án Paulo Cesar Farias” để tiến hành điều tra.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả và tính hợp pháp của cơ quan phòng chống tham nhũng quốc gia. Các hoạt động đưa tin của báo chí cũng có thể phát huy vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả làm việc của các cơ quan phòng chống tham nhũng. Báo chí thường xuyên đưa tin rất tỉ mỉ về công việc của các cơ quan đó, đưa các cơ quan này nằm dưới sự giám sát của công chúng, và được tồn tại độc lập với những người trong cơ quan quyền lực được hưởng các lợi ích, không để những người được hưởng lợi can thiệp vào công việc của họ. Có thể nói, giữa các cơ quan báo chí và cơ quan chống tham nhũng có mối quan hệ cộng sinh, cơ quan chống tham nhũng cung cấp các tài liệu chân thực cho cơ quan báo chí; Đồng thời, cơ quan báo chí cũng phục vụ cho lợi ích của cơ quan chống tham nhũng, các hoạt động của cơ quan chống tham nhũng thường được đăng tải trên báo chí sẽ khiến công chúng ủng hộ nhiệt tình các cơ quan báo chí hơn, từ đó khiến họ có tính hợp pháp hơn. Sự kiện Tổng thống Brazil Fernando Collor de Melo từ chức đã chứng minh cho mối quan hệ cộng sinh này. Do các hoạt động điều tra của Ủy ban điều tra “chuyên án Paulo Cesar Farias” thường xuyên được đăng tải trên báo chí, từ đó giành được sự ủng hộ của công chúng, và những sự thật được vạch trần sau quá trình điều tra lại cung cấp đề tài cho báo chí.

Báo chí cũng có thể kiểm soát các cơ quan chống tham nhũng, đề phòng hiện tượng tham nhũng xuất hiện trong chính các cơ quan này. Năm 1981, một đài phát thanh ở thành phố Detroit của Mỹ đã tiến hành điều tra về hành vi tham nhũng và không đúng quy trình của một tòa án ở thành phố này, khiến một vài luật sư, thẩm phán bị khai trừ hoặc cách chức. Tờ báo của Canada đưa tin về thẩm phán tòa án pháp lý thành phố vi phạm đạo đức nghề nghiệp và các quy định trong công tác, kéo dài thời gian điều tra, tạo gánh nặng cho cả thể chế tư pháp. Những bài báo đó đã thúc đẩy cơ quan tư pháp tỉnh ra lệnh cho chánh án tòa án thành phố áp dụng biện pháp đối với vị thẩm phán này, bảo đảm cho vụ án được xử lý kịp thời và nhanh chóng công bố kết quả phán quyết. Từ đó có thể thấy, những bài báo của các cơ quan báo chí đã giúp cơ quan tư pháp tăng cường trách nhiệm, từ đó nâng cao hiệu quả chống tham nhũng và các hành vi bất hợp pháp khác của các cơ quan này.

Thứ tư, tạo dư luận lên án chính phủ không liêm khiết. Rất nhiều chính đảng do nạn tham nhũng hoành hành mà thất bại trong quá trình bầu cử, bị loại ra khỏi trung tâm của quyền lực. Và báo chí cũng đã phát huy tác dụng trong việc hình thành dư luận bài xích các chính đảng đó. Báo chí Italy phanh vui “vụ hối lộ Milan” và các vụ scandal tham nhũng khác đã dẫn đến những phê phán của công chúng đối với hiện tượng tham nhũng của lãnh đạo cấp cao, thậm chí còn xây dựng lại văn hóa chính trị của Italia.  Tháng 2-1992, một vụ hối lộ với khoản tiền khổng lồ liên quan đến rất nhiều chính khách của Italia đã bị phanh phui ở thành phố Milan thuộc phía Bắc Italia, từ đó dẫn đến phong trào “cầm quyền liêm khiết” có tên gọi “Bàn tay sạch” trong giới tư pháp Italia. Bán đảo Italia bắt đầu phải gánh chịu một “trận động đất chính trị” cực mạnh. Thời điểm phanh phui vụ “Hối lộ Milan” rơi đúng vào thời kỳ quan trọng, khi Italia tiến hành bầu cử quốc tội, bầu cử tổng thống và thành lập nội các, do đó “trận động đất” này đã làm rung chuyển cả thành phố Milan và đất nước Italia. Trong “trận động đất chính trị” đó cựu Thủ tướng Bettino Craxi bị đưa lên ghế xét xử và kết án với tội nặng. Phong trào này được gọi là “Cuộc cách mạng không đổ máu” trên nghị trường Italia, không những dẫn đến các hoạt động cải cách quan trọng trong ngành tư pháp và quá trình bầu cử, mà còn dẫn đến sự phê phán kịch liệt của công chúng đối với các chính đảng lớn chiếm ưu thế trong chính phủ  Italia - đặc biệt là Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội Thiên chúa giáo.

Thứ năm, giám sát những lỗ hổng trong luật pháp và quy định nảy sinh trong quá trình cải cách. Những bản tin mang tính chất điều tra còn có thể ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng thông qua việc vạch trần những lỗ hổng trong luật pháp và quy định mà những kẻ tham nhũng có thể tranh thủ thời cơ để phạm tội. Chuỗi bài  của một đài phát thanh ở bang Indiana của Mỹ năm 1984-1985 đã đưa tin về hành vi tham nhũng của chính quyền bang Indiana, đồng thời chỉ ra những lỗ hổng trong luật pháp hiện hành đã gây ra nhiều hiện tượng tham nhũng hơn. Đài phát thanh này còn đưa ra những kiến nghị của mình, trong đó bao gồm xây dựng một cơ quan giám sát công cộng mới và mở rộng quyền lực cho Hội đồng thẩm định các vấn đề đạo đức và chánh án tòa án của bang. Thực tế, những bài báo trên đã thúc đẩy chính phủ Mỹ sửa đổi pháp lệnh ngân hàng liên bang nhằm xóa bỏ những kẻ hở trong hành lang pháp lý.

Thứ sáu, thúc đẩy cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng phản hồi. Đôi lúc, khi chưa có các bài báo công khai hoặc chưa nắm bắt được những bằng chứng xác đáng chứng minh một hành vi phi pháp nào đó tồn tại, những nghi ngờ mà báo chí đưa ra cũng sẽ khiến cơ quan hữu quan phản ứng ngay lập tức để bảo vệ uy tín của mình. Năm 1996, tờ Minneapolis Tribune của Mỹ đã đưa ra những chất vấn về mối quan hệ giữa câu lạc bộ múa thoát y và đội cảnh sát truy nã tội phạm. Quan chức của đội cảnh sát truy nã tội phạm bị cáo buộc là nhận quà đặc biệt và những lợi ích khác từ câu lạc bộ, nếu không câu lạc bộ này sẽ bị đóng cửa. Sau khi bị đối mặt với lời cáo buộc trên, cơ quan cảnh sát lập tức tiến hành điều tra nội bộ.

Do nhận thức được vai trò quan trọng của báo chí trong vấn đề phòng chống tham nhũng nên rất nhiều biện pháp cụ thể tăng cường vai trò của báo chí đã được đưa ra, một số biện pháp đã được thực thi, trong đó có:

Một là, tăng cường sự bảo vệ đối với các phóng viên tham gia điều tra các vụ tham nhũng

Phóng viên là người đi đầu trong việc vạch trần hiện tượng tham nhũng, tuy nhiên họ cũng có thể vì thế mà phải đối mặt với những mối đe dọa về mặt tinh thần và thể xác. Phóng viên thường phải bất chấp những nguy hiểm về tính mạng để đưa tin về các hành vi tham nhũng, và sau khi bị vạch trần, họ cũng thường xuyên bị quấy rối, đe dọa. Để bắt phóng viên phải giữ im lặng, một số kẻ tham nhũng thậm chí còn không từ thủ đoạn, bao gồm mưu sát, tấn công… Năm 1997, phóng viên Argentina José Luis – người  đã tham gia vào quá trình điều tra cảnh sát tham nhũng đã bị mưu sát. Hàng năm, những sự kiện này xảy ra ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Ủy ban Bảo vệ các nhà báo (CPJ) có trụ sở đặt tại New York, nửa đầu năm 2016, có gần 20 nhà báo, phóng viên bị sát hại, trong đó có ít nhất 7 người từng bị điều tra hoặc lên án các vụ án tham nhũng. Những nhà báo, phóng viên này đến từ Columbia, Mexico, Philippines, Nga và Thái Lan. Do dó, chuyên gia về các vấn đề tham nhũng quốc tế chỉ ra rằng, bảo vệ quyền lợi và sự an toàn cho phóng viên là nhiệm vụ hết sức cần thiết trong việc đảm bảo cho báo chí phát huy vai trò quan trọng trong việc phòng chống tham nhũng. Ở phương diện này, có thể nói Nam Phi là quốc gia đi đầu. Trong Luật dân chủ công khai của Nam Phi có quy định, cần bảo vệ để các nhân viên của chính phủ không bị trả thù khi vạch trần các thông tin về hành vi tham nhũng.

Hai là, đảm bảo sự thông suốt của thông tin

Thông tin thông suốt là chỉ “công dân có thể nắm bắt những thông tin về chính sách của chính phủ có liên quan đến lợi ích của bản thân, những thông tin này bao gồm hoạt động lập pháp, xây dựng chính sách, điều khoản pháp luật, thực thi chính sách, dự toán hành chính, chi tiêu công và những thông tin chính trị có liên quan”. Hành vi của chính phủ và quá trình đưa ra quyết sách thiếu minh bạch sẽ dẫn đến hiện tượng thiếu trách nhiện và tham nhũng nảy sinh. Thông thường, chính phủ đều cung cấp cho công chúng những thông tin có lợi cho mình. Tuy nhiên, nếu đó là những thông tin bất lợi cho mình thì các nhà chính trị và quan chức sẽ tìm mọi cách để che giấu. Nếu không được nắm bắt những thông tin tin cậy thì chức năng chống tham nhũng của báo chí sẽ bị hạn chế. Do đó, cần phải thông qua lập pháp để đảm bảo cho sự thông suốt của thông tin. Những đạo luật này cần quy định quyền kiểm sát, quy định phạm vi hoạt động cần được giám sát, quy định thời hạn xử lý yêu cầu được nắm bắt thông tin, quy định về các chủng loại thông tin được phép công khai.

Không thể phủ nhận, nếu công khai quá đà sẽ gây cản trở cho sự trao đổi ý kiến tự do, thẳng thắn của những người làm việc trong cơ quan chính phủ, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, tuy nhiên, cái giá phải trả của việc bảo mật và thiếu trách nhiệm còn cao hơn. Như cựu tổng thống Mỹ Thomas Woodrow Wilson đã từng nói: “Chúng ta đều biết, tham nhũng phát triển ở những nơi kín đáo và nơi né tránh công chúng, chúng tôi cho rằng, có lý do giả thiết rằng, bảo mật đồng nghĩa với những hành vi bất chính”. Do đó, để đảm bảo tính trách nhiệm của quan chức chính phủ, cần phải để công chúng nắm bắt được những thông tin có liên quan đến các hành vi của chính phủ.

Ba là, tăng cường tính trách nhiệm của báo chí.

Bản thân cơ quan báo chí cũng cần có tính trách nhiệm. Ở đây, tính trách nhiệm dùng để chỉ “hành vi của báo chí cũng cần chịu trách nhiệm trước nhân dân và quốc gia”. Đích quan tâm cuối cùng của báo chí là kiểm soát sự hủ bại và lạm dụng quyền lực, bảo vệ quyền lợi của công chúng không bị xâm phạm và tước đoạt, khiến quyền lực chung được vận dụng một cách tốt nhất, từ đó đem lại hạnh phúc cho người dân. Để đạt được mục tiêu này, cần đảm bảo tính trách nhiệm của bản thân báo chí. Ngoài ra, bất kỳ quyền lực nào cũng dễ bị lạm dụng vào mục đích xấu. Quyền lực không được kiểm soát chắc chắn sẽ dẫn đến hiện tượng nảy sinh tham nhũng.  Những tố cáo về việc báo chí xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, thương mại hóa… cũng không phải là ít. Do đó, cần thiết phải giám sát báo chí đề phòng hiện tượng tham nhũng xảy ra trong chính nội bộ cơ quan báo chí.

Để kiểm soát  báo chí, tăng cường tính trách nhiệm của báo chí, một số quốc gia đã thành lập Ủy ban báo chí, mục đích là cung cấp một diễn đàn công khai để công chúng tố cáo báo chí, khiển trách những bài báo thiếu trách nhiệm, từ đó ở một mức độ nào đó kiểm soát được hành vi của báo chí. Những cơ quan này đều tồn tại độc lập, lãnh đạo của chúng đều là những người giữ lập trường phi đảng phái, chính trực và được tôn trọng. Để ngăn ngừa những ủy ban này trở thành thẩm tra viên của cơ quan báo chí, chúng sẽ không có quyền chế tài hợp pháp. Chủ yếu chúng dựa vào độ uy tín và chính trực của mình để trở thành luồng sức mạnh đạo đức chi phối báo chí. Rất khó tách bạch ranh giới giữa cơ quan báo chí có trách nhiệm và thiếu trách nhiệm, thời gian và địa điểm đều ảnh hưởng đến sự phán đoán. Trên thực tế, sức mạnh đạo đức của  Ủy ban báo chí được coi là phương pháp tốt nhất để đảm bảo cho báo chí hoạt động có trách nhiệm, chứ không phải quyền lực chi phối báo chí mà chính phủ và toà án được giao phó.

Bốn là, tăng cường bồi dưỡng và đào tạo nghiệp vụ cho người làm báo

Một chức năng của báo chí là thu thập và xử lý tình hình thực tế của các sự kiện đang xảy ra rồi truyền tải đến công chúng thông qua các phương tiện truyền thông là báo in, phát thanh, truyền hình, mạng Internet. Điều này, yêu cầu phóng viên phải nắm bắt được các kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng điều tra, phân tích và giao lưu, chỉ có như vậy mới giúp công việc của họ đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, phóng viên cần phải có được khả năng phán đoán hợp lý, công bằng, từ đó khiến bài báo của họ công bằng, chính xác hơn. Nếu không, rất có thể sẽ gây nguy hại cho công việc của họ. Để có được những kỹ năng và năng lực này, người phóng viên cần phải trải qua quá trình đào tạo thích hợp. Đồng thời, hoạt động đào tạo này còn phải giúp người phóng viên hiểu được bản chất của tham nhũng và tính cần thiết của việc tuyên chiến với tham nhũng. Các cơ quan báo chí của rất nhiều quốc gia đều rất coi trọng hoạt động đào tạo đối với phóng viên, giúp họ nắm bắt được các kỹ năng cần thiết và ý thức được rằng hành vi tham nhũng luôn luôn tồn trong mọi lĩnh vực, bao gồm cả ngành báo chí.

Tóm lại, vai trò của báo chí trong việc phanh phui và đẩy lùi tham nhũng ngày càng lớn. Cái lợi của báo chí là có thể tiếp xúc với công chúng thông qua các kênh truyền thông như báo in hoặc phát thanh, truyền hình, mạng Internet. Cơ quan công quyền có thể thông qua báo chí để cảm nhận được vấn đề và khát vọng của nhân dân. Ngược lại, nhân dân cũng thông qua con đường trên để cảm nhận được năng lực và chính sách của các cơ quan này. Báo chí là người phát hiện hiện tượng tham nhũng, sự có mặt của báo chí giúp tham nhũng bị phanh phui. Đồng thời, báo chí còn là nhân tố quan trọng để truy quét nạn tham nhũng. Tuy nhiên, một điều cần nhấn mạnh là, báo chí không phải là cơ quan chức năng, báo chí chỉ ghi lại những vấn đề khách quan, báo chí không phải là trọng tài hay người thi hành pháp luật, do đó, nếu chỉ dựa vào báo chí để ngăn ngừa và đẩy lùi tham nhũng là chưa thể đủ, cần phải sự vào cuộc của cả toàn xã hội.

Nhà báo Nguyễn Thành Lợi

Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam

Tổng Biên tập Tạp chí Người Làm Báo