Kinh tế số: Thế giới không chờ ai, chúng ta không thể đi sau!

Thứ bảy, ngày 4 tháng 12 năm 2021 | 15:4:20

Chúng ta đều biết từ cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba chuyển sang lần thứ tư có 3 làn sóng công nghệ. Làn sóng thứ nhất là phổ biến máy vi tính. Đặc trưng của làn sóng này là chuyển các tài liệu từ bản giấy sang bản điện tử, khởi đầu quá trình thay đổi phương thức sản xuất, trao đổi và lưu giữ thông tin.

Làn sóng thứ hai là phổ biến intonet gắn với phổ biến điện thoại di động và mạng viễn thông di động. Đặc trưng của làn sóng này là số hoá quy trình nghiệp vụ, tin học hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đời sống thông tin, văn hóa của xã hội không chỉ có báo chí mà còn có cả mạng xã hội. Báo chí không chỉ là báo in, báo nói, báo hình mà còn có cả báo chí điện tử. Quá trình sản xuất, trao đổi, truyền tải, lưu giữ thông tin không chỉ thông qua máy tính mà đã phát triển bùng phát tạo nên lượng tài nguyên dữ liệu khổng lồ cùng sự khai thác, tương tác đa chiều trên không gian mạng.

Làn sóng thứ ba, gắn với sự phát triển đỉnh cao của sự đột phá công nghệ số thông minh. Trong đó có nhiều nhóm cốt lõi đã hiện hữu trong đời sống xã hội: intonet kết nối vạn vật, khoa học dữ liệu, điện toán đám mây, chuỗi khối Blockchain, in ba chiều, trí tuệ nhân tạo, robot tự hành, mô phỏng, tính toán lượng tử… Từ đây toàn bộ đời sống xã hội loài người được đưa lên không gian mạng. Cuộc sống của con người từ trong môi trường truyền thống đã chuyển hẳn sang môi trường số.

Chuyển mình theo tốc độ “vũ bão” của kỷ nguyên số, các quốc gia, vùng lãnh thổ đã và đang tìm cách hoá giải những bất cập trong xã hội truyền thống, những khó khăn do đại dịch COVID-19, xây dựng và thực hiện các chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển phù hợp với xu thế mới.

Nhận rõ con đường phát triển nhanh, bền vững, hợp xu thế chung của thời đại, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách, quyết sách nhằm thực hiện thành công cuộc cách mạng chuyển đổi quốc gia số với 3 trụ cột chính : Chính phủ số, xã hội số, kinh tế số. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì phiên họp mở đầu của Uỷ bản quốc gia về chuyển đổi số. Phiên họp đã đánh giá tổng thể và định hướng nhiều giải pháp quan trọng cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

Nhờ có tầm nhìn chiến lược và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, Việt Nam chúng ta trong mấy năm gần đây đã có bước tiến chủ động, tích cực trong xây dựng và phát triển Chính phủ số, kinh tế số, được nhiều chuyên gia quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, trên thực tế ở bước đi ban đầu cũng còn nhiều bất cập đang làm chậm bước quá trình số hoá theo chủ trương chung.

Bài viết này chỉ phản ánh đôi điều về những bất cập trong bước đi bạn đầu vận hành kinh tế số ở Việt Nam:

Bất cập về nhận thức

Xây dựng nền kinh tế số để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển vượt bậc là một yêu cầu tất yếu khách quan. Không tiến hành một cách quyết liệt thì đất nước sẽ không hoà nhập được vào xu thế chung của thế giới, nhiều cơ hội vàng do sự vận hành của cách mạng kỹ thuật số toàn cầu mang lại sẽ bị bõ qua, lỡ nhịp. Và do đó, câu chuyện sánh vai với các nước phát triển vẫn chỉ là ước mơ, lý tưởng phấn đấu mà thôi. Đảng, Nhà nước đã đặt đúng tầm quan trọng của phát triển kinh tế số, nhưng xem ra thái độ và nhận thức chung của cộng đồng xã hội đối với vấn đề này chưa theo kịp yêu cầu.

Nhận thức chung của xã hội là thế, còn nhận thức của những tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thì sao? Có thể khẳng định rằng, bên cạnh những nhận thức đúng đắn, tích cực cũng còn nhiều nhận thức lệch lạc về phát triển kinh tế số.

Biểu hiện rõ nhất của nhận thức lệch lạc ở đây là coi việc số hoá nền kinh tế đơn thuần là đổi mới và ứng dụng công nghệ số. Đây là một nhận thức không đầy đủ, phiến diện, thiếu tư duy biện chứng và tầm nhìn xa. Cần phải hiểu xây dựng và phát triển kinh tế số nó bao gồm yếu tố không thể thiếu đó là đổi mới và ứng dụng công nghệ số. Tuy nhiên câu chuyện này cần phải nhấn mạnh yếu tố thể chế, nghiêng về yếu tố thể chế hơn yếu tố công nghệ thì mục đích số hoá nền kinh tế mới đạt được.

Chúng ta sử dụng nền tảng kỹ thuật số chung của thế giới, hay sáng tạo và ứng dụng các nền tảng kỹ thuật số cụ thể riêng của Việt Nam, thì câu chuyện thành công phụ thuộc chủ vào pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện của Việt Nam.

Nếu như ứng dụng công nghệ số tạo ra năng suất hiệu quả cao hơn so với không ứng dụng, thì việc số hoá hoạt động sản xuất, thương mại tạo ra năng suất và hiệu quả gấp nhiều lần so với việc đơn thuần chỉ là ứng dụng công nghệ số. Nếu như ứng dụng công nghệ số cần những giải pháp về công nghệ là chính, thì số hoá nền kinh tế cần đồng bộ các giải pháp về khoa học quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp là chính. Trong một doanh nghiệp, công việc điều hành ứng dụng công nghệ là của người đứng đầu về công nghệ, còn công việc chuyển đổi số là của người đứng đầu doanh nghiệp.

Nhận thức về xây dựng nền kinh tế số còn phải hiểu không chỉ là số hóa hoạt động của doanh nghiệp mà là số hoá quản lý nền kinh tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều thành phần, chủ thể kinh tế. Mặt khác, nền tảng kỹ thuật số chung với các nhóm cốt lõi như nói ở phần đầu bài viết, thì chuyện số hoá nền kinh tế không chỉ là câu chuyện trong nước mà còn là câu chuyện của toàn cầu.

Bất cập về truyền thông

Báo chí và mạng xã hội trong thời gian qua đã có nhiều hoạt động tích cực, tuyên truyền đậm nét về cuộc cách mạng chuyển đổi số nói chung và kinh tế số nói riêng. Tuy nhiên việc tuyên truyền về lĩnh vực này cũng còn những vấn đề cần lưu ý:

⁃ Tuyên truyền còn mập mờ, lẫn lộn giữa cảnh báo sự rủi ro trong sản xuất kinh doanh với sự lừa đảo.

⁃ Khái niệm về tiền ảo, tài sản ảo, tiền số, tài sản số chưa được làm rõ. Các ngành nghề kinh doanh theo mạng, kinh doanh hệ thống, kinh doanh đa cấp chuyển động theo phát triển của kinh tế số cũng chưa được đi sâu. Riêng vấn đề kinh doanh đa cấp, báo chí nhiều khi không phân định rõ hợp pháp và bất hợp pháp.

⁃ Chưa phát hiện nhân rộng, hoặc chưa khuếch trương đúng tầm các mô hình kinh tế mới có sức nặng trong phát triển kinh tế số.

Có thể thấy, có những mô hình, dự án kinh tế, tài chính số mới xuất hiện, có nguồn gốc nước ngoài, việc phân tích, bình luận được đăng tải trên báo chí chưa bảo đảm khách quan, đa chiều. Trong đó có những mô hình, dự án chưa đủ thông tin xác thực, nhưng nội dung thông tin trên báo chí về nó sai lệch, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế số trong nước. Thí dụ, Crowd1 là một mô hình kinh tế số mới khác biệt. Mô hình này là của một doanh nghiệp có nguồn gốc và pháp lý rõ ràng. Một tập đoàn kinh tế phát triển với tốc độ nhanh. Nhưng cách đây không lâu, một số báo đài vẫn cho là lừa đảo. Trong lúc hàng triệu người trên thế giới, trong đó có hàng vạn người Việt Nam nhờ Crowd1 mà có việc làm, tăng thêm kiến thức kinh doanh, tăng thêm thu nhập, ổn định cuộc sống trong đại dịch COVID-19.

Nhiều báo đài cũng đưa ra cảnh báo hoặc phản ánh các dự án tài chính tiền tệ nhưng không có thông tin đầy đủ từ những góc nhìn mới trong cuộc cách mạng kỹ thuật số toàn cầu.

Cuộc sống rất cần việc cảnh báo những gì bất hợp pháp, lừa đảo, rủi ro. Tuy nhiên, các phóng viên cần phải điều tra kỹ từng dự án cụ thể. Đừng để công chúng có cảm giác thông tin trên báo chí nặng định kiến với thực trạng đã qua. Còn những mô hình, dự án kinh tế số mới đang hiện hữu, có pháp lý rõ ràng mà vẫn cho là lừa đảo thì báo chí chưa theo kịp xu thế mới, vô tình cản trở sự nghiệp phát triển kinh tế số.

Trên thực tế có những dự án có pháp lý rõ ràng, có giá trị cao trong phát triển kinh tế số, báo chí tuyên truyền chưa đúng tầm, hoặc thậm chí cho là lừa đảo khi dự án mới triển khai. Ví dụ như dự án mạng xã hội về Du lịch Hahalolo là một nền tảng kỹ thuật số riêng của Việt Nam, do người Việt Nam xây dựng đang vươn tầm toàn cầu với niềm tin thành công vang dội.

Gần đây một số báo đài cho rằng một số dự án kinh tế số vẽ ra nhằm để thu thập dữ liệu thông tin cá nhân, hoặc nhằm mục đích quảng cáo. Nhận định này không được thuyết phục.

Môi trường số là môi trường chung của đời sống xã hội, mỗi con người đều là một thực thể của môi trường. Các doanh nghiệp xây dựng hệ sinh thái khách hàng, nâng cao giá trị doanh nghiệp đều phải tiến hành thu nắm dữ liệu thông tin cá nhân của khách hàng. Đây là một khâu không thể thiếu trong hoạt động của doanh nghiệp. Việc xác lập mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, đối tác bằng việc cung cấp và thu nhận, quản lý, sử dụng thông tin cá nhân như họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nơi ở, địa chỉ gmail, số điện thoại là một hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong câu chuyện này cũng có những lừa đảo, có thể xẩy ra việc mua bán dữ liệu thông tin cá nhân, nhưng nếu báo chí nhấn mạnh quá chuyện này sẽ tạo ra tâm lý lo ngại cho người dân khi cung cấp thông tin cá nhân cho doanh nghiệp. Hoặc vì thế mà người dân bỏ qua nhiều cơ hội trở thành khách hàng của nhiều mô hình, dự án tốt.

Còn chuyện cho rằng nhiều dự án vẽ ra để nhằm mục đích quảng cáo, việc này cũng phải được làm rõ từng dự án cụ thể. Báo chí cần phân biệt việc lợi dụng những dự án đang hót, đang nóng, có sự quan tâm lớn của cộng đồng để quảng cáo, khác với việc quảng cáo sai sự thật, quảng cáo trên những dự án không có thật.

Ví dụ như dự án tiền số như Pi Network, đây là một dự án tử tế, hay chỉ là trò lừa đảo để thu thập dữ liệu cá nhân, vẽ ra để quảng cáo?

Người lập ra dự án có liên hệ gì với người quảng cáo. Người lập ra dự án có được chia lợi nhuận từ hoạt động quảng cáo ăn theo dự án? Khi mà những câu hỏi này còn bỏ ngõ thì việc thông tin trên báo chí cần thận trọng.

Vấn đề của báo chí là cần phải có sự cảnh báo chính xác những lừa đảo, rủi ro, chứ không nhận định chủ quan, áp đặt, một chiều. Cảnh báo và phản ánh của báo chí phải đi sâu cụ thể bản chất của sự vật, hiện tượng. Phải làm cho người dân đề phòng được sự gian dối, rủi ro, nhưng không để họ bỏ qua những cơ hội tốt.

Nhắn gửi cùng bạn đọc

1. Kinh tế số là một trụ cột trong chuyển đổi số quốc gia. Chính phủ đã điều hành thực hiện quyết liệt và có bước đi phù hợp. Tuy nhiên từ những bất cập nêu trên, Chính phủ cần tổ chức nghiên cứu toàn diện về bức tranh chung của thế giới, thông tin sâu về những vấn đề cốt lõi, những mô hình, dự án, nền tảng mới ở trong và ngoài nước, kể cả những dự án chưa có pháp lý rõ ràng, từ đó báo chí có cơ sở, nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả tuyên truyền về kinh tế số.

2. Trong cuộc cách mạng chuyển đổi số nói chung và kinh tế số nói riêng, mỗi người dân cần có một điện thoại thông minh, cần có tài khoản ngân hàng, mỗi căn nhà, phòng làm việc, nơi sinh hoạt cộng đồng… cần có đường truyền kết nối intonet. Mọi người đều phải được đào tạo, nêu cao việc tự học để có kỹ năng, sử dụng thành thạo điện thoại thông minh nhằm thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao cũng như bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân trong hoạt động kinh tế số.

3. Triển khai có hiệu quả xây dựng nền kinh tế số là một nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Thế giới không chờ ai cả. Đừng tự mình tại chỗ ở sau. Cần khắc phục các bất cập về nhận thức và truyền thông nói trên để tạo thêm sức mạnh chung của toàn dân tộc, từ đó tạo được nhiều đột phá để bứt phá thành công. Có như vậy Việt Nam mới hoà nhập và vượt lên trong cuộc cách mạng kỹ thuật số toàn cầu.

Đại tá, Nhà báo Nguyễn Hoà Văn