Ngô Tất Tố: Cây cầu nối giữa báo chí với văn chương

Thứ năm, ngày 1 tháng 3 năm 2018 | 21:35:29

Ngô Tất Tố là một nhà báo có biệt tài về châm biếm, trào lộng, có lẽ do tư chất thông minh, sắc sảo cộng với vốn tri thức bách khoa và cả sự thâm thúy từ Nho học đã tạo nên biệt tài đó. Và, biệt tài đó bắt gặp hiện thực xã hội đầy rẫy bất công dưới chế độ thực dân phong kiến đã làm nên một phong cách tiểu phẩm bậc thầy của Ngô Tất Tố.

Chân dung Ngô Tất Tố. Ảnh: TL

Nhà văn, nhà báo đa tài

Ngô Tất Tố sinh năm 1894 ở làng Lộc Hà (Kẻ Cói), tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn (xứ Đông Ngàn), tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình khá giả, có truyền thống hiếu học, Ngô Tất Tố đã được hưởng thụ nền giáo dục Nho học từ rất sớm. Khi còn nhỏ, ông được ông nội dạy chữ Hán vỡ lòng, lớn lên được gửi đi học các thày ở nhiều làng quê khác. Do có quy định của Thống xứ Bắc Kỳ, thí sinh dự thi Hương, ngoài chữ Hán còn phải làm bài thi chữ Quốc ngữ bắt buộc và bài thi tiếng Pháp tự nguyện, vì thế năm 1907, ông đã đi học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp để chuẩn bị cho sự nghiệp khoa cử.

Năm 1915, Ngô Tất Tố đỗ đầu kỳ thi khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh nên được gọi là Đầu xứ Tố. Sau đó, ông dự khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ, đỗ được kỳ đệ nhất, nhưng rớt ở kỳ đệ nhị. Từ năm 1916, ông bắt đầu đi dạy chữ Quốc ngữ ở các làng trong vùng, dịch và xuất bản cuốn truyện cổ Trung Hoa “Cẩm hương đình”.

Năm 1926, Ngô Tất Tố nhận lời mời của Tản Đà, ra Hà Nội làm cho tờ An Nam tạp chí. Từ đây, cái nghiệp làm báo, làm văn đi theo ông đến phút chót của cuộc đời. Khi An Nam tạp chí tự đình bản vì hết tiền, ông cùng Tản Đà khăn gói vào Sài Gòn. Gần 3 năm ở Sài Gòn, xứ thuộc Pháp lúc bấy giờ, ông làm cho tờ “Đông Pháp thời báo” và “Thần chung” (tức là tờ Đông Pháp thời báo đổi tên). Ông viết nhiều thể loại, từ làm thơ, bình thơ, bình luận thời sự, chuyên luận, đến khảo luận các vấn đề văn hóa, xã hội, dịch các truyện ngắn, truyện dài từ tiếng Hán, trong đó có cuốn “Giấc mộng lầu son” (tức là Hồng lâu mộng). Thời kỳ này Ngô Tất Tố dùng các bút danh: Ngô Tất Tố, Ng.T.T., N.T.T., T.T., T., Kim Ngô.

Năm 1930, Ngô Tất Tố ra Hà Nội tiếp tục sống bằng nghề viết báo. Từ đây cho đến Cách mạng tháng Tám, ông là cây bút lẫy lừng trong làng báo, làng văn. Ông viết cho các báo: Phổ thông, Hà thành ngọ báo, Đông phương, Công luận, Đông Pháp, Đuốc nhà Nam, Thực nghiệp dân báo, Công dân, Tương lai, Tiểu thuyết thứ ba, Việt Nữ, Thời vụ, Con ong, Tao đàn, Hà Nội tân văn, Trung Bắc chủ nhật, Ngày mai... với nhiều bút danh khác nhau như: Ngô Tất Tố, Thục Điểu, Thiết Khẩu Nhi, Dân Chơi, Lộc Hà, Lộc Đình, Ngoan Tiên, Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhỡn, Đạm Hiên, Thuyết Hải, T.H., Xuân Trào, X.T., Hy Cừ, Cối Giang, T., T.T., v.v..

Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939, Ngô Tất Tố viết nhiều tác phẩm lên án chế độ áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, phản ánh đời sống lầm than của những người dân nghèo, nhất là nông dân. Chính quyền thực dân Pháp nhiều lần cấm Ngô Tất Tố viết báo, trục xuất ông khỏi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, khám nhà ông ở quê và đã có lần bắt giam ông mấy tháng ở Hà Nội. Năm 1939, chính quyền thực dân ra lệnh cấm tác phẩm Tắt đèn. Trong điều kiện bị nhà cầm quyền o ép, gây khó dễ, Ngô Tất Tố vẫn không ngừng viết báo, viết văn.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ngô Tất Tố hồ hởi đón chào với niềm tin vào cách mạng là con đường tốt nhất để thực hiện mục đích mà ông đã dùng ngòi bút của mình để đấu tranh, đó là giải phóng dân tộc, xóa bỏ cuộc sống lầm than, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ông tham gia vào Ủy ban Giải phóng của làng Lộc Hà quê ông. Năm 1946, ông tham gia vào Hội Văn hóa cứu quốc, tự nguyện lên Chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến. Ông làm việc tại Sở Thông tin Khu XII được cử làm Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, vừa viết văn vừa viết báo cho các tờ Cứu quốc, Tạp chí Văn nghệ, Cứu quốc khu XII... Tại Hội nghị Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất, tháng 7/1948, ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam.

Ngô Tất Tố: Cây cầu nối giữa báo chí với văn chương

Ba giai đoạn quan trọng

Cuộc đời hoạt động báo chí của Ngô Tất Tố trải qua 3 giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất từ 1926 đến 1929, giai đoạn thứ hai từ 1930 đến 8/1945 và giai đoạn thứ ba từ sau Cách mạng tháng Tám đến khi ông qua đời, tháng 4 năm 1954.

Giai đoạn thứ nhất từ 1926 đến 1929, có thể coi là thời gian khởi đầu, “tập sự” nghề làm báo của Ngô Tất Tố. Ông bắt đầu cộng tác với nhà thơ Tản Đà để viết cho tờ An Nam tạp chí, một sản phẩm mang đặc chất văn chương, nghệ sỹ. Từ An Nam tạp chí, ông chuyển sang làm cho tờ Đông Pháp thời báo và sau đó là tờ Thần Chung (tên mới của Đông Pháp thời báo). Các bài viết của Ngô Tất Tố trong giai đoạn này gồm hai bộ phận.

Bộ phận lớn nhất là các bài dịch thuật, khảo cứu, các bài bình luận thơ, văn. Bộ phận thứ hai là những bài viết mang hơi hướng các thể loại báo chí, phục vụ cho mục đích thông tin thời sự của các tờ báo. Đó là những bài bình luận chính trị - xã hội hay một số tin tức, tản văn về đời sống văn hóa, xã hội.

Chủ đề các tác phẩm báo chí của ông chủ yếu tập trung vào những thói hư, tật xấu, những biểu hiện lệch chuẩn trong lối sống, những điều “trái tai, gai mắt” trong các ứng xử giữa người với người, với những vấn đề thời sự nóng hổi. Nhìn vào diện mạo các bài viết của ông trong giai đoạn này có thể nhận ra một Ngô Tất Tố - nhà nho, nhà giáo, đang tiếp cận với nghề làm báo, đang làm quen với sức nóng của thời cuộc và đang tôi rèn ngòi bút nghề nghiệp để trở thành một Ngô Tất Tố - nhà báo đích thực.

Giai đoạn thứ hai từ 1930 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thời gian mà nhà báo - nhà văn Ngô Tất Tố nở rộ tài năng, bút lực làm báo của ông sung sức nhất. Ngòi bút của ông tung hoành trên các mặt báo đương thời. Các bút danh của ông xuất hiện trên hàng loạt tờ báo: Phổ thông, Đông phương, Công luận, Đuốc nhà nam, Thực nghiệp dân báo, Công dân, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Trung Bắc chủ nhật, Đông Pháp... Ông là người một mình đảm nhiệm hoặc là giữ vai trò chủ yếu của nhiều chuyên mục thường xuyên trên các tờ báo: Việc trong nước của Đông Pháp thời báo, Gặp đâu nói đấy, Thời cuộc trong nước của báo Phổ thông, Nói chơi, Thế giới thời bình của báo Đông Phương, Nói mà chơi của báo Tương lai, Gặp đâu nói đấy, Thật hay bỡn, Sau lũy tre của Thời vụ báo, Ném bùn sang ao của báo Con ong, Chuyện hàng ngày của báo Đông Pháp v.v..

Trong lĩnh vực báo chí, Ngô Tất Tố viết nhiều thể loại như tin tức, bình luận, khảo cứu, bút ký, nhưng thuận tay nhất, thành công nhất và để lại số lượng tác phẩm lớn nhất trong di sản báo chí của ông là tiểu phẩm và phóng sự. Hiện thực xã hội khắc nghiệt dưới ách thống trị, áp bức của ngoại xâm và bè lũ phong kiến đã thôi thúc Ngô Tất Tố dùng ngòi bút của mình để tố cáo và phê phán.

Ngòi bút phê phán của ông trực diện nhằm vào tất cả những gì mà ông coi là xấu, là không đạo đức, bất kể đó là hủ tục, thói hư của các tầng lớp người trong xã hội hay những việc làm không chính đáng của giới quan trường, những chủ trương, chính sách mất lòng dân của nhà cầm quyền.

Giai đoạn thứ ba trong cuộc đời làm báo của Ngô Tất Tố bắt đầu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi ông qua đời ngày 20/4/1954. Ngô Tất Tố vui mừng, hồ hởi đón nhận Cách mạng tháng Tám như đón nhận sự giải phóng, giải phóng cả cuộc đời hiện thực và giải phóng khỏi những âu lo, trăn trở về thế sự trong tâm hồn. Ông hăng hái tham gia hoạt động cách mạng ngay ở làng quê mình, rồi từ biệt quê hương, khăn gói lên chiến khu tham gia kháng chiến.

Nếu như cảm hứng chủ đạo của hai giai đoạn trước là tố cáo và lên án chế độ thực dân phong kiến, phê phán những cái xấu, những biểu hiện không lành mạnh của đời sống xã hội, trong giai đoạn thứ ba, ngợi ca là âm hưởng chủ đạo của các tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố. Cho dù là viết về những gian nan trong kháng chiến, về máy bay địch đe dọa trên bầu trời, nhưng mỗi câu, mỗi chữ trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố đều như ngân lên âm hưởng của niềm vui, niềm tin. Trong đó, không tìm đâu ra bóng dáng những trăn trở, trào lộng, châm biếm đã từng thấm đẫm trong các tác phẩm báo chí của ông ở các thời kỳ trước.

Di sản báo chí của Ngô Tất Tố để lại cho đời sau là vô giá. Ảnh minh họa

Di sản báo chí khổng lồ

Ngô Tất Tố qua đời ngày 20/4/1954 tại Yên Thế, Bắc Giang, chỉ chưa đầy một tháng trước Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông có 4 người con trai và 3 người con gái, trong đó có hai người con trai là liệt sỹ.

Ngô Tất Tố là một nhà văn nổi tiếng của văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng Tám với tiểu thuyết Tắt đèn, các phóng sự Việc làng, Tập án cái đình, Lều chõng, Dao cầu thuyền tán. Ngô Tất Tố là nhà dịch thuật Hán ngữ với khối lượng trang dịch khổng lồ. Ông dịch sách Cẩm hương đình khi mới 22 tuổi, dịch Thơ Đường, dịch và chú giải Kinh dịch, dịch tiểu thuyết Suối thép, sách Hoàng Lê nhất thống chí, dịch nhiều truyện, tiểu luận và công trình khác. Ngô Tất Tố là một nhà nghiên cứu với nhiều công trình khảo cứu về triết học phương Đông và văn học cổ.

Ngoài công trình dịch và chú giải Kinh dịch, ông còn là tác giả của sách Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, sách Mạc Tử, sách Lão Tử - viết chung với Nguyễn Đức Tịnh, sách Thi văn bình chú, v.v.. Ngô Tất Tố cũng là một nhà báo tài năng với sức viết thật đáng khâm phục. Trong 28 năm hoạt động sáng tạo, ông để lại một di sản báo chí khổng lồ được đăng tải trên gần 3 chục tờ báo, tạp chí khác nhau.

Chỉ riêng trong cuốn “Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố”, Cao Đắc Điểm và Ngô Thị Thanh Lịch đã sưu tầm, giới thiệu gần 1.200 bài báo của Ngô Tất Tố đăng trên các báo trong thời gian từ 1928 đến 1945. Cũng là hai tác giả Cao Đắc Điểm và Ngô Thị Thanh Lịch trong cuốn Tổng thư mục Ngô Tất Tố cho rằng “Với hơn 30 bút danh, trên hơn 20 chuyên mục của gần 30 tờ báo, tạp chí trong Nam ngoài Bắc và ở Việt Bắc, Ngô Tất Tố đã để lại hơn 1.500 tác phẩm đăng báo” (Cao Đắc Điểm và Ngô Thị Thanh Lịch: Tổng thư mục Ngô Tất Tố, Nxb Thông tin và Truyền thông, HN, 2010, tr. 95). Ngô Tất Tố viết báo với đủ tài và nghề, với dũng khí và sự nhạy bén trước cái mới, được nhiều người đương thời nể phục. Vũ Bằng từng khẳng định “Ngô Tất Tố là một huấn luyện viên của tôi trong nghề báo” (Vũ Bằng: Mười bốn gương mặt Nhà văn đồng nghiệp, Nxb Hội Nhà văn, HN, 2004).

Chất châm biếm, trào lộng trong các tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố thể hiện ngay từ ngôn từ cho đến cách bố cục từng phần, kết cấu cả tác phẩm. Người đọc có thể cảm nhận sự chế giễu, trào lộng ngay trong từng từ, từng câu chứ không cần phải đợi đến cái kết của tác phẩm.

Một điều đặc biệt ở Ngô Tất Tố là, trừ tác phẩm “Cẩm Hương đình” dịch từ truyện cổ Trung Hoa được Tản Đà tu thư cục và - Nghiêm Hàm ấn quán in thành sách từ năm 1923, còn lại tất cả tác phẩm văn chương của ông đều được “chào đời” trên các trang báo, tạp chí. Có thể cắt nghĩa hiện tượng này theo hai nguyên nhân. Thứ nhất, là một người lăn lộn và thành tài trong nghề báo, Ngô Tất Tố hiểu rất rõ về sức mạnh to lớn của báo chí đối với công chúng xã hội. Vì thế, ông tận dụng con đường báo chí để đưa tác phẩm của mình đến bạn đọc nhanh nhất, rộng rãi nhất. Thứ hai, là các tác phẩm văn chương của Ngô Tất Tố đều phản ánh trực diện hiện thực xã hội đương thời, thực sự có ý nghĩa thời sự và có khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng báo chí.

Mặt khác, chính hoạt động báo chí với những chất liệu sống, đề tài thời sự và sức nóng của hiện thực cuộc sống, đã là mảnh đất màu mỡ thuận lợi để những tác phẩm văn chương của ông thai nghén và ra đời. Đến lượt nó, các tác phẩm văn chương của Ngô Tất Tố mang đậm sắc màu của thực tại xã hội, nóng hổi hơi thở cuộc sống đương thời.

Nhận xét của Vũ Trọng Phụng - một nhà văn - nhà báo lớn, tài năng cùng thời với Ngô Tất Tố về tiểu thuyết “Tắt đèn” của ông đã giải thích khá rõ: “Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, một áng có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy và cũng là áng văn mới mẻ nhất về loại văn chương xã hội ngày nay” (báo Thời vụ, số 100, ra ngày 31/1/1939). Có thể nói, Ngô Tất Tố như cây cầu nối giữa báo chí với văn chương./.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn

Tạp chí Người Làm Báo