Nhà báo Lưu Đình Triều: Ba tôi – Thầy tôi

Thứ hai, ngày 10 tháng 4 năm 2017 | 15:3:47

Nhà báo Lưu Đình Triều: 21 năm đất nước chia đôi, 1954-1975, cũng là 21 năm nhiều gia đình bị chia cách. Trong số đó có gia đình tôi. Ngày ba má rời khu 9 ra Hà Nội nhận nhiệm vu mới, chính là ngày chị tôi và tôi được bà ngoại đón về Biên Hòa nuôi dưỡng. Hồi ấy, tôi được xem là đứa trẻ mồ côi, vì khai sanh bà tôi khai là cha mất mẹ mất.

Không được sống gần cha, nhưng chẳng hiểu tại sao ngay từ thuở niên thiếu tôi rất yêu thích văn học và mê đọc báo. Do gen di truyền chăng? Ngoại là người lao động chạy chợ, kiếm cơm từng bữa, nên chuyện mua sách báo là điều không mơ thấy nổi. Gần nhà có một sạp báo. Chiều nào không học, tôi hay lê la ra đó để phụ xếp báo. Thời ấy báo phát hành buổi chiều. Từng chồng báo 4 trang, 8 trang dầy cộp, được tôi bóc tách ra, để xuống sàn xi măng, vuốt gấp lại thẳng thớm từng tờ một. Sau đó với bàn tay còn đen mực in, tôi cầm vài tờ báo mình yêu thích, chạy ra bờ tường ngồi đọc một mạch. Đọc xong, đem trả cho chủ sạp để bán. Đó là cách “đọc báo cọp” chân chính nhất hồi ấy. Thỉnh thoảng, tôi còn mượn cảmhứng từ bài viết trên báo, để tập tành viết báo tường… Khi chuẩn bị vào đại học, tôi đã chọn Ban báo chí học của một đại học tư thục, nhưng gặp khó khăn về tiền đóng học phí nên thôi.

Trong quãng thời gian “đọc báo cọp” ấy, bất ngờ có lần tôi được xem một bài viết có nhắc đến tên ba tôi – Lưu Quý Kỳ. Đó là bài viết của nữ ký giả Ý được phép đến Hà Nội hành nghề . Lần đầu tiên trong đời, tôi mới biết ba tôi là một nhà báo. Còn trước đó, theo lời kể của bà tôi: ba má hai đứa con là người yêu nước nên theo Việt Cộng. Bà chỉ biết thế thôi chứ không biết gì hơn.

Hòa bình lập lại, tôi mới được nhìn thấy ba tôi – nhà báo Lưu Quý Kỳ bằng xương bằng thịt. Để rồi, có một ngày trong tháng 2/1976, tôi được ngồi đối diện với ba, để bàn chuyện đi làm . -Con thích được làm báo như ba -Vì sao con thích? -Con mê đọc báo và hay viết báo tường. Ba tôi lắc đầu và nói bằng giọng khá nghiêm khắc: Nghề báo không đơn giản chút nào. Làm báo phải dám lăn lộn để có vốn sống, có thực tế. Phải có nhận thức, biết cái nào đúng, cái nào sai. Con chưa có những điều ấy. … Kết thúc cuộc trò chuyện là ngày hôm sau tôi vác đơn qua sở công nghiệp để xin làm công nhân…

3 năm gắn bó với nhà máy vẫn không làm tôi lãng quên ước mơ làm báo. Giữa năm 1979, đọc được trên báo thông tin tuyển sinh lớp đại học báo chí, tôi đăng ký dự thi và thi đỗ. Với kết quả như thế, ba đồng ý tạo điều kiện cho tôi ra Hà Nội học nhưng vẫn không quên nhắc nhở: Con phải tìm hiểu kỹ các tiêu chuẩn của nghề báo, trước khi vào trường.

Ở nơi mà tôi đặt bước chân đầu tiên vào nghề báo, tôi có may mắn được tiếp cận, truyền lửa nghề từ một số nhà báo, nhà nghiên cứu tên tuổi thời ấy như Hoàng Tùng, Thanh Đạm, Thép Mới, Trần Lâm, Đào Tùng, Hữu Thọ, Hà Đăng, Phan Quang, Trần Minh Tân.. Đặc biệt nhất với tôi là có cả thầy Lưu Quý Kỳ. Tôi say mê ngắmnhìn ba tôi trên bục giảng, với đôi mắt thỉnh thoảng nhấp nháy; tôi lặng lẽ nuốt từng lời giảng dạy của ba. 

Viết cần tránh tô hồng, sáo rỗng. Viết không hoa mỹ nhưng phải mượt mà, ai đọc cũng hiểu cũng thích… Những ngày thứ bảy, chủ nhật, tôi được phép về nhà ở cùng ba má và hai em. Đó là những ngày tôi có dịp học hỏi, quan sát chuyện viết lách của nhà báo Lưu Quý Kỳ. Sáng sớm chủ nhật, ba tôi thường ngồi trước bàn viết, với tách cà phê, cùng ấm chè bên cạnh. Có lúc ba uống cà phê xong viết liền một mạch.

Viết không phải đợi đến lúc cầm bút mà cần phác thảo trước trong đầu những ý chính của bài. Thậm chí nghĩ ra được đoạn nhập đề như thế nào thì sẽ dễ viết hơn. Có lúc thấy ba trầm ngâm nhìn ra vườn. Trang giấy trắng trước mặt chỉ vỏn vẹn một cái tựa nhưng lại bị gạch bỏ.

Tít tựa như một cái la bàn giúp người viết đi theo sát chủ đề. Tít lại là những con chữ đập vào mắt người đọc đầu tiên, nên vừa chứa đựng thông tin quan trọng của bài, lại vừa phải dùng từ ngữ tạo sự thu hút. Có lẽ vì thế nên chưa tìm ra tít ưng ý thì ba tôi chưa viết.

Nhà báo Lưu Đình Triều con trai của nhà báo Lưu Quý Kỳ

Không ít lần trò chuyện về nghề, ba cứ dặn đi dặn lại, làm nhà báo phải xông xáo, tích cực đi thực tế. Đi, quan sát, ghi nhận và khai thác thông tin. Ba không nhắc về những những chuyến đi thực tế của ông, nhưng tôi sau này biết được thời chiến tranh gian khó, hiểm nguy, ba đã hai lần đi dọc Trường Sơn. Mỗi chuyến đi đều ngót ngét trên dưới nửa năm. Nhớ lời ba dạy, lần đầu đi thực tế ở một hợp tác xã về, tôi đã căng mắt ra mà quan sát, tìm hiểu và ghi chép. Về nộp bài cho trường xong tôi cò lẩy ra, viết một cái tin. Xong tôi đưa bản thảo nhờ ba xem, góp ý. Không chỉnh sửa gì, ba chỉ nói: tin cần phải ngắn gọn. Viết lê thê thế này ai mà đọc. Tiếp thu nhận xét đó, tôi đã tự “cắt đục đẽo”, viết lại và mạnh dạn gởi tin cho báo Hà Nội Mới. Cuối cùng tin được đăng, nhưng từ 200 chữ chỉ còn lại một dòng tin vắn hơn 30 chữ. Dù sao chuyện đó càng giúp tôi thấm thía thêm lời dạy của ba về việc viết phải ngắn gọn xúc tích.

Đầu năm1982, tôi được đi thực tập ba tháng tại TP Hồ Chí Minh. Những bài viết đầu tiên của tôi lần lược được xuất hiện trên Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ. Tôi đã hí hửng viết thư gửi ra nhà “khoe” với ba về những sản phẩm báo chí của mình.

Lời hồi đáp của ba sau đó thật ngắn gọn: Chỉ mới là những bước đi chập chững đầu tiên thôi con. Đường đi cùng nghề báo còn dài lắm. Hãy lăn lộn, học hỏi nhiều hơn nữa.

Hơn 30 năm chí cốt cùng với nghề , tôi cảm nhận những bước chân đi của mình cũng chưa thật vững chãi lắm. Vẫn còn nhiều điều cần phải học, phải hiểu. Tiếc rằng hơn 30 năm ấy tôi đã không còn nhận được sự chỉ dạy từ cha tôi, thầy tôi – nhà báo Lưu Quý Kỳ.

 Ngày 1.8.1982, ông đã vĩnh viễn ra đi, trong một chuyến công tác nước ngoài./.

Theo VTV/ Nhà báo Lưu Đình Triều