Nhà nghiên cứu- nhà báo Trần Bạch Đằng

Thứ tư, ngày 3 tháng 5 năm 2017 | 11:39:7

Đến tháng 4 này, nhà cách mạng lão thành, nhà nghiên cứu đầy uyên bác, nhà báo Trần Bạch Đằng đã từ giã chúng ta vừa 10 năm. Ông đã ra đi vào cõi vĩnh hằng vào tuổi 81 vào 10g50 sáng ngày 16/4/2007 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM, sau một cơn đau tim. Khi còn sống những khi chúng tôi tìm, là không bao giờ ông từ chối, dù có lúc các nhà báo hay hỏi điều “cắc cớ” khi nói chuyện xưa với ông. Đó là Nhà báo Trần Bạch Đàng, mà ta hay gọi là Tư Ánh.

       Lúc còn làm Chủ biên của bộ sách “Lịch sử Mặt trận Dân tộc giải phóng Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh”, mà chúng tôi may mắn được ông cho phép tham gia vào nhóm biên soạn, nhà báo Trần Bạch Đằng bao giờ cũng yêu cầu mỗi chương biên soạn cần đi tới những ngọn nguồn của vấn đề cần nghiên cứu. Lúc đó, toàn bộ tiến trình của công tác đấu tranh yêu nước mà MTTQ và các danh nhân, nhân sĩ trong MTDT GP miền Nam từ giai đoạn 1930 - 1975 đã cống hiến và dành cả đời mình vì nghĩa nước cao cả, đầy hy sinh. Và cách nghiên cứu của ông, là mỗi tác giả phải tìm ra những “điểm nhấn”, có đầy đủ tư liệu gốc, bộc lộ được nhân cách đất nước, con người trong vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh - mà Sài Gòn - Gia Định là trung tâm… thì ông mới cho thông qua từng chương của bộ sách công phu này, do Giáo sư Trần Văn Giàu và ông chỉ đạo nội dung.

      Nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng tên thật là Trương Gia Triều, sinh ngày 15/7/1926 tại Rạch Giá, Kiên Giang. Ông là cháu nội nhà chí sĩ yêu nước Trương Gia Mô (còn gọi là cụ Nghè Mô, là bạn thân cụ Nguyễn Sinh Sắc, cha của Nguyễn Tất Thành), người sáng lập Trường Dục Thanh, tại TP Phan Thiết - nơi năm 1910, thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào dạy học và ra đi vào Sài Gòn tìm con đường cứu nước.

 Chân dung nhà báo - nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng.

       Nhà báo Trần Bạch Đằng tham gia cách mạng khi mới 17 tuổi. Năm 1946, ông đã được giao phụ trách tờ báo “Chống Xâm Lăng” hoạt động bí mật của Thành ủy Sài Gòn. Năm 1951 làm Tổng biên tập báo “Nhân Dân Miền Nam” của Xứ ủy Nam bộ. Ông lần lượt đảm trách nhiều cương vị quan trọng như Phó bí thư, rồi Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Ủy viên Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Đoàn chủ tịch UB Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

      Trong từng dấu ấn thời kỳ hoạt động cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà báo Trần Bạch Đằng đã để lại những ấn tượng khó quên. Như có lần nhóm chúng tôi may mắn được gặp cô Trần Thị Ngọc Sương (Sáu Sương), vợ nhà báo Nguyễn Trọng Xuất (Sáu Nhân), nguyên Chánh Văn phòng Thành ủy TP.HCM, người lo trực tiếp vận chuyển báo chí bí mật, từ Sài Gòn đi Paris từ năm 1969 đến đầu năm 1973. Cô Ngọc Sương cho biết: lúc đó nhà báo Trần Bạch Đằng là Phó Bí thư Khu ủy, nhưng lại chỉ đạo toàn vùng nội đô Khu ủy Sài Gòn - Gia Định. Và trong một cuộc họp của giới chị em nữ hoạt động đơn tuyến Bưu điện Trung tâm Sài Gòn, ông Tư Ánh (tên thân mật nhà báo Trần Bạch Đằng) nêu vấn đề: bây giờ tại Hội nghị Paris đang rất căng thẳng, nhất là khi 2 phái đoàn ngoại giao ta nêu ra những chủ trương của Mỹ - ngụy về đàn áp người dân vô tội miền Nam, thì cả 2 phái đoàn Bộ Ngoại giao Mỹ và Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đều bác bỏ ta, cho là ta có chứng cứ ở đâu?. Thế là 2 phái đoàn ngoại giao Chính phủ VN DC Cộng hòa và Chính phủ CM Cộng hòa MN VN, dù nắm rất rõ vấn đề, song không có chứng cứ, để bác bỏ phản hồi 2 đoàn Ngoại giao Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu trên bàn đàm phán.

      Lúc đó, Phó Bí thư Khu ủy Trần Bạch Đằng nêu vấn đề và để gợi lên nhiệm vụ mật, làm ai cũng hiểu cần đưa báo chí công khai tại Sài Gòn đi sang Paris bằng máy bay hằng ngày, mà giữ được bí mật. Ông nêu ra cách làm, các loại báo chí công khai tại Sài Gòn, tờ nào nói công khai, có quan điểm rõ ràng, tờ nào theo chủ trương của Nguyễn Văn Thiệu… Và sau cuộc họp đó, một tổ nữ hoạt động đơn tuyến Bưu điện Trung tâm Sài Gòn của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định được thành lập, do nữ đảng viên (hoạt động đơn tuyến) Trần Thị Ngọc Sương (Sáu Sương), dẫn đầu và tổ chức ngay từng buổi tối vào mỗi đêm, để sáng ngày sau ra sân bay Tân Sơn Nhất, đi thẳng tới Paris         

      Và chủ trương rất tạo bạo này của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định mà Phó Bí thư Khu ủy Trần Bạch Đằng nêu ra đã có tác dụng rất lớn cho cuộc đấu trí tại Hội nghị Paris về Việt Nam. Những quyết sách do đồng chí Trần Bạch Đằng chỉ đạo, được thực hiện ngay: sử dụng Bưu điện Trung tâm Sài Gòn để chuyển báo chí in ấn tại Sài Gòn của chế độ Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu lúc đó. Những tờ báo khi đó, như: Thời Luận, Tiếng Chuông, Sài Gòn Mới, Tia Sáng, Trời Nam , Lẽ Sống, Thần Dân, Thời đại, Chuông mai, Dân quyền, Dân ta, Dân Tộc, Buổi sáng, Dân nguyện, Liên minh, Dân chủ, Dân chủ mới, Đồng thanh, Thần dân, Miền Nam, Tân Văn... với những tác phẩm của các nhà báo nổi tiếng lúc đó, như: Phạm Thế Tuyền, Trần Ngọc Sơn, Anh Tín, Thẩm Thệ Hà, Thanh Lộc... đã trực tiếp nói lên tiếng nói chính nghĩa của nhân dân miền Nam, đúng sự thật mà Mỹ - ngụy Sài Gòn không thể chối cãi, được đưa ra ngay trên bàn Hội nghị Paris.

        Thực hiện mệnh lệnh đó, từ đầu năm 1969 trở đi, đến ngày 4 bên ký kết Hiệp định Paris tháng 01/1973, lúc nào trên bàn đàm phán tại hội nghị Paris, luôn có một nguồn thông tin chính thức, công khai hàng ngày, song rất có lợi trực tiếp cho 2 phái đoàn đàm phán của ta. Đó là những chuyến thư được Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, bố trí di chuyển công khai bằng máy bay từ Sân bay Tân Sơn Nhất đến thẳng thủ đô Paris của nước Pháp, nơi đang diễn ra Hội nghị Paris về Việt Nam.

     Trần Bạch Đằng là một nhà báo, nhà nghiên cứu và là một nhà chính trị lão thành của Việt Nam. Ông cũng đã viết hàng ngàn bài báo đầy tâm huyết và là tác giả của những tiểu thuyết viết về một nhân vật tình báo bí ẩn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam: Đại tá Phạm Ngọc Thảo, với bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý, sau lên kịch bản phim “Ván bài lật ngửa”, chín tập - nổi tiếng từ sau ngày giải phóng miền Nam 1975. Sau ngày giải phóng miền Nam, ông tập trung vào sự nghiệp nghiên cứu và viết báo. Cầm bút hơn 60 năm, ông có nhiều bút hiệu như: Hưởng Triều, Nguyễn Hiểu Trường, Nguyễn Trương Thiên Lý, Trần Quang...  và sáng tác nhiều thể loại khác nhau, mỗi thể loại đều có nhân cách rất riêng biệt, trong từng tác phẩm đến hàng triệu người đọc và xem.

       Các bài báo của Trần Bạch Đằng thường rất ngắn, nhất là những bài báo gửi cho báo Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng hay Tuổi Trẻ TPHCM đăng, thường chỉ vẻn vẹn 200-300 chữ, song chứa đựng bên trong đó là cả “núi” vấn đề. Có lần khi thăm Hội Nhà báo TPHCM, ông chỉ nói viết báo đừng ham viết nhiều, dân ta còn lo làm ăn, giờ giấc có nhiều đâu mà đọc tràng giang, đại hải… Tôi thật thấm thía khi những vụ việc lớn của TPHCM mà báo chí đăng luận, thường SGGP, hay Tuổi Trẻ đặt hàng trước, ông viết có 300 chữ - nhưng 300 chữ đó là cả nghĩa lớn cuộc đời mà ông đã thấm hiểu khi tìm hiểu về sự việc đó. Bởi vậy ở TPHCM, SGGP hay Tuổi Trẻ thường đặt hàng trước khi cần có những thông tin định hướng đa chiều, và ông đã đi vào lòng người ngay trang Nhất các báo lớn - bài chỉ vẻn vẹn có 200 - 300 từ (không bao giờ quá trang A.4).

      Nhà báo Trần Bạch Đằng cũng là tác giả những bài thơ đầu tay, như: “Trên bờ Đồng Nai”, “Dấu cũ”, “Chiếu rách mưa đêm”, “Dạy học lậu”...  và những tập truyện ngắn có tính thời sự như “Bác Sáu Rồng” (1975), “Một ngày của Bí thư Tỉnh ủy” - nói về Bí thư Tỉnh ủy Cửu Long (năm 1985) và những tiểu thuyết góp phần thúc đẩy xu thế đổi mới của đất nước: “Chân dung một Quản đốc” (1978), “Ngày về của ngoại” (1985). Ông cũng khẳng định mình trong lĩnh vực kịch: “Trần Hưng Đạo bình Nguyên” (1951), “Nửa tuần trăng kỳ lạ (1984)”, “Tình yêu và lời đáp” (1985), “Một mùa hè oi ả” (1986), “Một mối tình” (1987)… Những tác phẩm này luôn đọng lại sự tình, sự đời của một người cộng sản, một nhà báo bao năm vật lộn sóng gió tại chiến trường miền Nam.

        Về Điện ảnh, cũng là lĩnh vực được ông Trần Bạch Đằng quan tâm. Kịch bản phim truyện “Ông Hai Cũ” (2 tập - 1985, 1987), “Dòng sông không quên” (1989) đã gây nhiều ấn tượng; tác phẩm qui mô “Ván bài lật ngửa” (2 tập, bắt đầu thực hiện từ 1982, hoàn thành năm 1988) là dấu ấn rất quan trọng trong nền điện ảnh Việt Nam sau năm 1975.

        Nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng là một người am hiểu sâu về các phong tục, tập quán và văn hóa miền Nam. Có thể nói, ai từng làm việc hay được tiếp xúc với ông, đều cảm nhận một sự thân mật, cởi mở, hài hòa… như những nhà báo, nhà nghiên cứu, mà đã có nhiều lăn lộn, gai góc trong cuộc đời, trong sáng tác. Tháng 4 này, là 10 năm ngày ông đi xa. Dù đi xa văn đàn TP.HCM và cả nước, song những tư tưởng, tình cảm cao cả, một cuộc đời sống động, nhân văn đầy tình người của con người Trần Bạch Đằng – nhà báo không mang thẻ Nhà báo - vẫn luôn sáng mãi, qua bao năm tháng đầy chất thấm đậm trong tình đời & tình người./. 

 Phạm Bá Nhiễu  

(Th.sĩ PBN, Hội viên Hội NB VN – Trung tâm Tư tưởng Công tác Tư tưởng Thành ủy TPHCM – 090.3744747)