Những ký ức không thể nào quên

Thứ ba, ngày 30 tháng 4 năm 2019 | 8:26:30

“Năm nào cũng vậy, cứ vào mỗi dịp tháng Tư, tâm hồn tôi lại trào dâng cảm xúc lâng lâng, đặc biệt sáng 30/4, những phóng viên chiến trường chúng tôi lại gặp nhau và đúng 12 giờ trưa, mọi người sẽ cùng nhau hát “Nối vòng tay lớn” - đó cũng là giờ mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh hát 44 năm về trước”.

Nhà báo Anh Ngọc (bên trái) và nhà báo Mạnh Hùng trên cảng Bạch Đằng - Sài Gòn, đầu tháng 5/1975 - (Ảnh: NVCC)

Đó là chia sẻ của Đại tá, nhà báo, nhà thơ Anh Ngọc - nguyên phóng viên chiến trường Báo Quân đội Nhân dân, nguyên biên tập viên và cán bộ sáng tác Tạp chí Văn nghệ Quân đội - người có vinh dự được sống trong những ngày tháng đầu tiên khi Sài Gòn giải phóng.

Nằm khiêm nhường trên gác tư của một khu tập thể trên “phố nhà binh” Lý Nam Đế, căn hộ của nhà thơ Anh Ngọc đã cũ kĩ, rệu rã theo năm tháng. Thế nhưng, tâm hồn và sức sáng tạo của chủ nhân căn nhà ấy thì vẫn luôn trẻ trung, yêu đời. Đặc biệt, không chỉ dành tình yêu cho thơ ca, ông còn là người say mê bóng đá, mê nhạc Trịnh và thích viết thư pháp. Có thể nhiều người chưa biết, ông còn là bình luận viên bóng đá nổi tiếng một thời trên sóng truyền hình và đã từng xuất bản nhiều cuốn sách về bóng đá, trong đó nổi bật là cuốn “Ba cuộc đời một trái bóng” viết về 3 danh thủ của Thể Công là thủ môn Trần Văn Khánh, hậu vệ Nguyễn Trọng Giáp và tiền đạo Nguyễn Thế Anh (Ba Đẻn).

Với gia đình nhà thơ Anh Ngọc trong những ngày đầu năm 2019 này còn đón nhận một tin vui, đó là ông nội của ông - chí sĩ cách mạng Nguyễn Đức Công (bí danh Hoàng Trọng Mậu) - người từng giữ chức Quân vụ Uỷ viên (ủy viên phụ trách quân sự) trong phong trào Việt Nam Quang phục hội do cụ Phan Bội Châu sáng lập - vừa được đặt tên đường ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trước đó cụ đã được đặt tên đường tại Đà Nẵng. Không chỉ có người ông nội khí tiết, dòng họ Nguyễn Đức của ông ở xã Nghi Trung (huyện Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An) còn có nhiều nhà văn, nhà thơ tiếng tăm, trong đó đứng đầu là Hoài Thanh, Hoài Chân với công trình nghiên cứu giới thiệu “Thi nhân Việt Nam” để đời trong văn học Việt Nam hiện đại.

Có một điều khá lý thú là bất kỳ phóng viên nào đến phỏng vấn, ông đều chụp ảnh chung với phóng viên ấy. Đó như là cách để ông lưu trữ tài liệu và thể hiện bản năng của người làm báo. Và thật bất ngờ khi bản năng ấy đã được ông làm cách đây 60 năm, tức là vào những năm 16, 17 tuổi, ông đã giữ thói quen viết nhật ký. Riêng trong năm 1975, khi đất nước đầy ắp những sự kiện, ông đã viết đến 3 cuốn nhật ký. Mấy chục năm đã trôi qua, nhưng cuốn sách ấy đã được Anh Ngọc nâng niu, trân trọng, lưu giữ cẩn thận để giờ đây khi lật mở từng trang sách cho tôi xem, ông vẫn rưng rưng cảm xúc.

Thói quen của ông là viết nhật ký một đầu, sáng tác một đầu, thậm chí nhiều chỗ cần hình minh họa mà không có máy ảnh ông đã tự vẽ. Cùng ông xem lại cuốn nhật ký, tôi ấn tượng bởi những nét vẽ tinh xảo về chân dung con gái người cấp trên của ông - chị Đinh Thị Hồng Nga, về vùng tam giác Bình Thuận, về những cô gái to khỏe, kiên cường gánh “sông núi trên vai”, về người Cơ Ho…. Ông bảo, đây là những tài liệu rất quý giá, nó phản ánh về một thời hào hùng của dân tộc và chúng ta không được phép lãng quên. Vậy nên, nhiều bảo tàng, trung tâm lưu trữ quốc gia cất công đến xin cho bằng được. Thế nhưng, vốn là người “quý sách hơn vàng”, ông cho không nhiều, phần lớn vẫn được ông giữ lại ở tư gia và như ông khoe là có cả một vali.

Tốt nghiệp khóa 6 - Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đai học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội), chàng thanh niên Anh Ngọc được cử làm giảng viên tại Trường Trung cấp Thương Nghiệp ở Thanh Hóa rồi Trường Đại học Thương Nghiệp (nay là Đại học Thương Mại). Thế nhưng bảng đen, phấn trắng và những trang giáo án đã không níu giữ được đôi chân và con tim của người thầy giáo trẻ vốn dĩ đam mê sáng tác và thích tự do bay nhảy. Năm 1971, ông nhập ngũ và được điều về Binh chủng Thông tin tham gia bảo vệ đường dây trong chiến dịch Thành cổ Quảng Trị. Bắt đầu từ đây, tài năng của một người lính cầm bút trong Anh Ngọc bắt đầu hé mở.

Và đến cuối tháng 1/1975, với tư cách phóng viên Báo Quân đội Nhân dân, ông cùng đồng đội, là nhà báo Hà Đình Cẩn và Trần Hữu Tòng lên đường vào Nam Trung Bộ trong không khí hừng hực, khí thế của quân và dân cả nước. Ông kể, chúng tôi - những phóng viên của báo đi từ Hà Nội, một tháng rưỡi cả ngồi ô tô lẫn đi bộ trên đường Trường Sơn, được ăn Tết ở Ngã ba Đông Dương, rồi cùng bộ đội chủ lực vào giải phóng thị xã Phan Thiết.

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định trò chuyện với đoàn nhà báo Báo Quân đội Nhân Dân (nhà báo Anh Ngọc bìa phải) trên đường Trường Sơn vào mùa xuân năm 1975 (Ảnh: NVCC)

Tiếc là ngày 30/4/1975 khi Sài Gòn giải phóng ông đã không thể có mặt do nhiệm vụ phân công chỉ hoạt động ở Nam Trung Bộ. Nhưng với bản năng của người làm báo, ông đã xin với cấp trên được vào Sài Gòn ngay lập tức. Đến Sài Gòn vào chiều tối 1/5/1975 và được sống trong không khí giải phóng, người người vui mừng khiến những phóng viên chiến trường như ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Đó là đêm đầu tiên mà những phóng viên chiến trường như ông được nằm ở Sài Gòn sau mấy tháng trời chui rúc trong rừng. Lúc đầu mắc võng ngoài vườn hoa, sau gặp mưa ông cùng đồng đội ôm võng chạy vào trong, kiếm 2 song cửa để mắc cho dù có cả một doanh trại bỏ không mênh mông giường đệm. Chính cái cảm xúc giao thời đó cho ông rất nhiều cảm xúc để viết lên những tác phẩm sau này.

Thế nhưng, khi nghe các tử tù Côn Đảo đứng lên nổi dậy, ông và nhà báo Mạnh Hùng đã phóng xe máy tức tốc ra Vũng Tàu. Chiếc xe máy được ông lấy từ cơ quan của Ngụy quyền Sài Gòn đã bị đạn bắn thủng trước đó nên dầu luyn bắn tung tóe, cứ đi một đoạn, ông lại dừng để đổ thêm nhiên liệu khiến mất rất nhiều thời gian. Đó cũng là lần đầu tiên ông đi xe máy. Khi đến Vũng Tàu, ông bắt gặp một đoàn tử tù về đến thành phố. Ngay đêm đó, ông đã thức trắng đêm để phỏng vấn và viết bài về một tử tù nổi tiếng, đó Lê Quang Vịnh - người sau này từng giữ các chức vụ quan trọng như: Bí thư Côn Đảo, Phó Ban Dân vận Trung ương, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ. Bài viết dày dặn, nhiều thông tin, chi tiết đắt giá của Anh Ngọc với tựa đề “Ánh mắt Lê Quang Vịnh” đã được in trang trọng 7 kỳ ngay sau đó trên Báo Quân đội Nhân dân.

Sau đó, ông trở lại Sài Gòn và được dự đêm giao hưởng ngày 1/6/1975 hoành tráng, ấn tượng do các nghệ sĩ từ Hà Nội vào biểu diễn. Đêm nhạc đã được phóng viên Đài BBC nhận xét: “Khi chúng tôi nghe bản giao hưởng của Bét-thô-ven vang lên, cứ ngỡ là từ một băng nhạc trong một căn nhà nào đó, không ngờ là của đoàn giao hưởng Hà Nội vào biểu diễn trong thành phố này… Các ông không chỉ có sức mạnh quân sự mà còn có một nền văn hóa tiên tiến. Như vậy, các ông giành chiến thắng là lẽ đương nhiên”!

Là người ngồi xem trên khán đài, cũng như nhiều khán giả khác, trong lòng Anh Ngọc trào dâng nỗi niềm cảm xúc và đó cũng là chất liệu để ông sáng tác bài thơ “Sài Gòn đêm giao hưởng”. Ông đã khai thác sự đối lập giữa quang cảnh thành phố phồn hoa đô hội với bộ đội giải phóng giản dị vốn quen với núi rừng. Bài thơ này không đề cập tới chuyện thắng và thua, Anh Ngọc đã dựa vào hai chữ “giao hưởng”, giao hưởng âm thanh của âm nhạc để nói sự “giao hưởng”, hòa hợp của lòng người sau chiến tranh. “Đêm nhạc ấy như là một cái mốc đáng nhớ để mọi người nhận ra rằng, chiến tranh đã qua rồi, non sông đã thu về một mối, “từ nay người biết thương người”, từ nay, những tấm lòng mấy chục triệu người của đất nước “giao hưởng”, hòa hợp nhau trong mọi sự buồn vui của một Tổ quốc thống nhất”, nhà thơ Anh Ngọc nhớ lại.

Và hôm nay đây, được trò chuyện cùng Đại tá, nhà báo Anh Ngọc giữa đất trời Thủ đô hòa bình, trong không khí nô nức của cả nước kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, người lính ấy chiêm nghiệm rằng: “Bây giờ nhìn lại thì thấy hồn thiêng dân tộc đã nâng bước chúng ta vượt qua thời kỳ máu lửa đầy mất mát, cho chúng ta một ngày thống nhất, hòa bình và độc lập”./.

Thiên An/Cổng TTĐT Hội Nhà báo VN