TỌA ĐÀM: NHẬN DIỆN SUY THOÁI VÀ “TỰ CHUYỂN HÓA” QUA BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG: Phát biểu của TS - Nhà báo Nhị Lê, Phó TBT Tạp chí Cộng sản

Thứ hai, ngày 30 tháng 10 năm 2017 | 9:25

Chào mừng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, ngày 27/10, Cổng Thông tin Điện tử Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Tạp chí Người Làm Báo, Báo Nhà báo và Công luận tổ chức cuộc tọa đàm: Nhận diện suy thoái và ‘tự chuyển hóa” qua báo chí Truyền thông.Toạ đàm nhằm khẳng định những giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga (CMTM), nhận diện sâu thêm về những thăng trầm của lịch sử trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH), sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Cổng TTĐT Hội Nhà báo Việt Nam xin giới thiệu phát biểu của TS - Nhà báo Nhị Lê, Phó TBT Tạp chí Cộng sản tại buổi Tọa đàm.

TS Nhà báo Nhị Lê- Phó TBT Tạp chí Cộng sản

Thưa TS Nhà báo Nhị Lê, CMTM là một cuộc cách mạng vĩ đại chưa từng có trong lịch sử nhân loại. CMTM đã mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Sau CMTM trên thế giới đã xuất hiện một hệ thống các nước XHCN hùng mạnh, nhưng hệ thống đó chỉ tồn tại được 74 năm, TS cho biết về nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô?  

Có lẽ chẳng phải đợi cho tới nay, rất ít người không biết: Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa là quá trình nổ ra hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản trong hàng trăm năm: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng Pháp vào các năm 1789 - 1794, 1830, 1848... Không thể phủ nhận được ý nghĩa to lớn của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản cổ điển là, chúng đã xóa bỏ về cơ bản chế độ chuyên chế phong kiến, phát quang mảnh đất xã hội hiện thực cho chủ nghĩa tư bản phát triển tự do, thay thế chế độ quân chủ bằng chế độ dân chủ.

Và do đó, thế giới trước năm 1917, không còn nghi ngờ gì, là thế giới của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu sau khi chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến, và đã bành trước ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển trở thành cái gọi là “trung tâm vũ trụ” (!). Chúng chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống quốc tế, lúc bấy giờ.

Nhưng cũng vào chính những đêm trước năm 1917 ấy, lịch sử thế giới dưới sự thống trị và nhào nặn của chủ nghĩa tư bản cũng đang âm ỉ và hàm chứa những tiền đề, những dữ kiện báo hiệu một thế giới đang rạn vỡ, cấp bách đòi hỏi cần phải đổi mới cơ cấu, chất lượng và hình thức phát triển. Chủ nghĩa tư bản đã cố sức làm nhưng không thể làm khác được, tự nó bộc lộ ra rõ nhất những mắt xích, những khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chính nó. Sự rạn vỡ của thế giới, sự phát triển không đồng đều của hệ thống tư bản chủ nghĩa với những mâu thuẫn cố hữu, phức tạp mà chính nó không đủ sức giải quyết... đã làm đảo lộn tư duy, chỉnh đốn lại lực lượng cách mạng thế giới, làm xuất hiện những tình thế cách mạng xã hội mới.

Trước tình hình đó, trong lúc không ít các nhà dân chủ - xã hội Nga cho rằng, trước hết, cần tạo ra những tiền đề văn minh cho chủ nghĩa xã hội đã, sau đó giai cấp công nhân mới có thể giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội..., thì V. I. Lê-nin đã đi ngược lại: kiên quyết đề nghị thay đổi trật tự thông thường đó bằng việc, trước tiên giai cấp công nhân giành lấy chính quyền, rồi sau đó, dựa vào chính quyền của mình thúc đấy sự phát triển kinh tế - xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sự vận động thực tế của nước Nga đương thời đã thừa nhận lời đề nghị đó của V. I. Lê-nin. Khẩu hiệu “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng” là khẩu hiệu đầy sáng tạo, đầy khoa  học và cách mạng. Nếu năm 1871, với cuộc cách mạng “tấn công lên trời” của Công xã Pa-ri thực sự là tiếng vọng của cuộc chiến tranh Pháp - Phổ; cuộc cách mạng Nga năm 1905 được thúc đẩy bởi sự chém giết giữa binh lính Nga và Nhật Bản; thì tương tự thế, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) đã gây bão táp ở châu Âu để cho Cách mạng Tháng Mười trở thành đỉnh cao của cơn bão táp ấy.

Và là một tất yếu, Cách mạng Tháng Mười năm 1917 đã nổ ra và thắng lợi.

Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới, từ ngọn nguồn chủ nghĩa Mác. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười, chế độ tư bản chủ nghĩa hiện diện tưởng như một định mệnh, như một trật tự vĩnh hằng, thì sau Tháng Mười - 1917, không ai không thấy, canh xửa nhà tù thế giới ấy đã bị nổ tung, cái được thổi lên định mệnh ấy thành ảo tưởng, cái trật tự được tự coi là vĩnh hằng ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền cho hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, trên khắp hành tinh. Và cũng từ sau Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa xã hội thế giới hiện diện với tư cách là “một phát minh lịch sử vĩ đại nhất”, và như lời thừa nhận của chính cố Tổng thống Mỹ, ông R. Ních-xơn: “là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ XX”. Nhà nước Xô-viết – đứa con đẻ của Cách mạng Tháng Mười - đã trở thành tấm gương lịch sử hiện thực đối với các quốc gia, dân tộc vừa thoát khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực đân đã thường lựa chọn và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Rõ ràng, Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng mở đường thời đại mới, là cột mốc lịch sử báo hiệu một chiều hướng phát triển mới của nhân loại - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là cuộc cách mạng mang ý nghĩa lịch sử toàn thế giới

Một trăm năm nhìn lại lịch sử thế giới thăng trầm, từ Cách mạng Tháng Mười, thực tiễn đã và đang chính minh một điều không thể phủ nhận được rằng: Chủ nghĩa xã hội hoàn toàn không chỉ thuần túy là tư tưởng của một giai cấp, càng không phải là một phương kế của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác, như ai đó từng nói toáng lên và huyên thiên như vậy. Đó là tư tưởng đạo lý, tư tưởng giải phóng loài người thông qua các cuộc cách mạng xã hội chống lại mọi sự phản nhân văn và phản tiến bộ, giải phóng trí tuệ và bảo đảm chất lượng cuộc sống của con người, vì sự công bằng và dân chủ, vì một thế giới tốt đẹp và thịnh vượng.

          Và do đó, con đường mà cuộc Cách mạng Tháng Mười mở ra càng rõ ràng là con đường phát triển tự nhiên và tất yếu của thời đại xã hội chủ nghĩa bất diệt.

Khi trận “động đất lịch sử” của chủ nghĩa xã hội năm 1991 xảy ra, đã đẩy hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng chưa từng có; và người ta kết tội vô cớ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, trong đó một số người từng “ăn theo” và phất lên nhờ cuộc Cách mạng ấy cũng trở cờ hạ nhục chân lý vĩ đại từ cuộc Cách mạng đó! Và, tất cả họ quay ra cổ súy, tung hô chủ nghĩa tư bản. Nhân thế, ở Việt Nam, nhiều người “theo đuôi” những người ấy, lại mang tâm lý thù ghét, họ quay ra xúc xiểm, nhắm mắt phủ nhận bừa cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam; thù địch phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới ngọn cờ của cuộc Cách mạng Tháng Mười. V.v. và v…

Điều sơ đẳng nhất ở đây sẽ là: Nếu sự xấu hổ giết chết con người thì những kẻ “ăn theo” rồi bôi nhọ các cuộc Cách mạng ấy đáng phải chết nhiều lần. Vì, nhân thế cho thấy, ai không biết xấu hổ thì không thể thành người được! Tôi chưa nói tới sự tráo trở và phản trắc!

Thành quả vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười chỉ duy trì và phát triển gần 74 năm, kể từ năm 1917 tới năm 1991, khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ. Vì sao như vậy? Lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có một điều không ai phủ nhận được, rằng dưới ngọn cờ đó, hàng loạt các cuộc cách mạng từ Á sang Âu tới Mỹ La-tinh nổ ra và thành công - cái quả lịch sử của cây Cách mạng này đã “nảy mầm”: Việt Nam năm 1945, Trung Quốc năm 1949, Cu Ba năm 1959 và nhiều quốc gia dân tộc khác, làm nên một hệ thống thế giới, đi trên con đường xã hội chủ nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Không ai cưỡng được! Và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các quốc gia Đông Âu khác, do nhiều nguyên nhân, nhưng căn bản nhất, họ đã nhân danh Đảng Cộng sản, thậm chí mạo danh cách mạng và đi chệch khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa mà cuộc Cách mạng này vạch ra. Sự sụp đổ cũng không gì cứu vãn được! Một cuộc cách mạng không biết tự bảo vệ mình thì sự thất bại do sai lầm, bạc nhược, mất lòng dân, do bị phản bội…, cũng tất yếu như sự nó phải sinh ra, và cả hai đều là như nhau. Thực tiễn một trăm năm qua là hợp lý, hợp lý đến mức không thể chối cãi được về một chân lý rõ ràng: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô với tất cả những gì nhân danh cuộc Cách mạng Tháng Mười bị sụp đổ chứ cuộc Cách mạng ấy không bị  phá sản. Nhân loại tiến bộ dù đã chứng kiến những tấn bi hùng trong lịch sử phát triển của mình, nhưng không gì cản nổi, đang và sẽ tiếp tục hướng về, đi tới cái tất yếu chủ nghĩa xã hội mà Cách mạng Tháng Mười là cái đầu tàu mở đường thời đại ấy - thời đại nhân loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội - không gì cưỡng được.

Đó là chân lý!

Sự thật có thể có nhiều, nhưng chân lý thì chỉ có một! 

Và, hơn bao giờ hết, giờ đây, nhân loại càng cần tỉnh táo trước những thủ đoạn mới của không ít thế lực đang rắp tâm làm: Muốn xóa bỏ một quốc gia người ta tìm cách xóa bỏ quá khứ lịch sử của quốc gia đó, để hiểu vì sao người ta đang bôi nhọ và rắp mưu xóa bỏ Cách mạng Tháng Mười Nga, trên quy mô toàn thế giới. Và vì thế, dù đã trọn 100 năm trôi qua, Cách mạng Tháng Mười vẫn vẹn nguyên, vẫn nóng hổi ý nghĩa khởi nguyên từ năm 1917 - ý nghĩa lịch sử toàn thế giới, với tính cách là cuộc cách mạng vạch thời đạilà chân lý ấy, dù cho thế nào, vẫn tỏa sáng cùng lịch sử nhân loại.

Những ai mưu toan bôi nhọ và phủ nhận Cách mạng Tháng Mười, nói một cách hình ảnh, giống như những kẻ chém dao xuống dòng sông lịch sử đang chảy xiết, không hơn!

Câu hỏi 4:  

Thưa TS - Nhà báo Nhị Lê, có đại biểu đã nêu nguyên nhân dẫn đến nguy cơ đe doạ vai trò lãnh đạo của đảng và sự tồn vong của chế độ XHCN, con đường đúng đắn mà đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhưng con đường này cho đến nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức, mà thách thức lớn nhất là niềm tin của nhân dân đối với đảng và thể chế chính trị, do một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái ,"tự diễn biến,tự chuyển hoá". Lợi dụng những thử thách này mà một số người cổ xuý cho chế độ đa nguyên, đa đảng họ kiến nghị đảng ta cải cách chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và thay đổi hiến pháp. Như vậy trong xã hội ta vẫn còn những quan điểm cho rằng vì ta không chấp nhận đa nguyên, đa đảng  mới dẫn đến nguy cơ đe dọa chế độ nói trên. Nhà báo suy nghĩ về vấn đề này như thế nào?

Kỳ thực vấn đề đã trở nên cũ rích từ hai mươi năm trước.

Nhưng, gần đây, ở nước ta, nhân những vụ gây rối mang màu sắc chính trị ở nơi này nơi khác, một số người mệnh danh là “dân chủ” được thể bới lại và tung hê lên vấn đề đa đảng hòng đánh lừa hoặc lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin theo ý đồ chính trị đen tối của chúng, về cái gọi là dân chủ và đa đảng.

Họ nói là, "chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc nhất một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được"(!); rằng, "ở Việt Nam muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng như nước ngoài họ đã từng làm"(!). Thậm chí có người "tát nước theo mưa", làm ra vẻ “uyên bác”, “đánh tráo lịch sử" kiểu ngài Ơ. Đuy-rinh, diễn trò "đảo lộn khoa học”  nhằm mưu đồ làm “con ngựa gỗ thành Tơ-roa”, "theo đóm ăn tàn"... bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, qua việc  cái gọi là “khuyến nghị” tập thể, nhưng kỳ thực là, mưu toan xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, nhằm lật đổ Đảng(!).

Có thật trên thế giới, muốn có dân chủ thì phải đa đảng không?

Không. Thực tế đang chống lại họ. Chẳng hạn, ở Mỹ, dù ở mức độ này khác, nhưng ai cũng thấy rằng, suốt hơn 220 năm qua, kể từ khi nước Mỹ ra đời, trong bối cảnh rất nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng - Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ - hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản lũng đoạn thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng không ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa chúng, và nếu có khác chăng thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách rất nhỏ mà thôi. Trong lúc đó, Đảng Cộng sản Mỹ - với lịch sử hơn một trăm năm, người đại diện và đấu tranh không mệt mỏi vì quyền lợi của hàng triệu công nhân Mỹ và những lý tưởng cao đẹp - có những thời kỳ bị loại ra ngoài vòng pháp luật, các đảng viên của Đảng luôn bị đe dọa, ám sát và bị khủng bố. Và ngày nay, luật pháp Mỹ đã “khoanh tròn” hoạt động của Đảng Cộng sản Mỹ trong không gian chính trị nhỏ bé và ngột ngạt nên chẳng có cơ may phát triển, còn nói gì đến cái gọi là dân chủ trong việc đấu tranh giành vị trí cầm quyền. Phải chăng đó là dân chủ?, là sự "thuận lý"? Ấy là chưa kể đến hàng loạt thủ đoạn tinh vi, bẩn thỉu: mua chuộc, đe doạ, ám sát lẫn nhau giữa hai đảng đó nhân những cuộc bầu cử, vận động chính trị.

Nếu  họ cho rằng, phổ thông đầu phiếu là một trong những biểu hiện cao nhất của nền dân chủ, thì thật khó hiểu khi việc xác lập tư cách cử tri cũng là một cuộc vật lộn, tranh đấu thậm chí đẫm máu ở các nước tư bản. Hẳn ai cũng biết, ở Anh - năm 1928; Pháp - 1944; I-ta-li-a - 1945; Tây Ban Nha - 1970; Thụy Sĩ - năm 1971, Mỹ phải đợi đến năm 1920, phụ nữ ở các nước này mới có quyền đi bầu cử. Nói rằng, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân thì quyền đó ở chỗ nào? Phải chăng như thế là dân chủ?

Điều mà họ cho là "thuận lý" khi nói tới chế độ tam quyền phân lập là cơ chế bảo đảm cho nền dân chủ, song thực tế thì sao?

Có thể thấy ngay, ở các quốc gia vừa nêu trên, nhà nước tam quyền nhưng không ở nơi đâu có sự phân lập hoàn toàn. Không ai có thể nhớ nổi các tổng thống đã bao lần phủ quyết các dự luật của quốc hội. ở nhiều nước khác, tổng thống, thậm chí cả thủ tướng có quyền tuyên bố giải tán quốc hội, khi thấy nó trái với mình. Quyền ra dự luật chỉ thuộc thẩm quyền các nghị sĩ chứ đâu thấy quyền đó ở các tổ chức chính trị và xã hội. Đương nhiên, người công dân thì bị "bỏ qua" hẳn trên lĩnh vực này. Phải chăng, lý tưởng của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân được hiểu và làm như thế mới là "thuận lý", là dân chủ đích thực? Và nếu được xem là dân chủ thì tại sao các bộ máy của nền dân chủ phương Tây nhiều khi đã phải đầu hàng các thế lực ma-phi-a, các thế lực lũng đoạn nhà nước, các thế lực khủng bố và thủ tiêu các quyền dân chủ và quyền con người; nhưng lại làm tốt nhất trong việc xử những người vô tội, kiên tâm, dũng cảm đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội?

Vào thập niên cuối của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, do những sai lầm, đảng cộng sản ở đó tan rã, và người ta đã quay sang buông xuôi, chấp nhận và đi vào con đường cổ vũ đa nguyên chính trị, đa đảng, nhưng vẫn không thoát khỏi sự khủng hoảng trầm trọng toàn diện. Có lẽ đại đa số nhân dân lao động Đông Âu và Liên Xô là người thấm thía sâu sắc thế nào là dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và dân chủ đa đảng. Những vụ xô xát đổ máu bùng lên. Những cuộc bài xích, đe doạ,  truy đuổi những người cộng sản liên tiếp xảy ra. Tất cả các lực lượng đối lập với Đảng cộng sản đều đồng thanh rằng, con đường dân chủ tốt nhất là để nhân dân lựa chọn đại biểu của mình trong hệ thống nhà nước. Song ở đâu, những người cộng sản thắng thế và đắc cử thì lập tức ở đó rộ lên sự chống phá, thậm chí cả đe doạ, khủng bố những người cộng sản. Thì ra, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nghĩa với việc mở rộng dân chủ; không có nghĩa là mọi người dân, mọi tầng lớp đều có quyền tham gia quản lý nhà nước. Toàn bộ những việc làm này được người ta che đậy bằng khẩu hiệu "dân chủ", "nhân quyền", được tụng ca "dân chủ thắng thế"(!). Hoá ra, tất cả đều chỉ là "những thủ đoạn chính trị tầm thường, những trò bịp bợm". Có lẽ chính trường một số nước ở châu Âu gần đây là bài học tốt nhất về dân chủ cho những ai khát khao dân chủ thấy thế nào là dân chủ xã hội chủ nghĩa do một đảng lãnh đạo và thế nào là dân chủ đa đảng. Đó là sự phong phú và sinh động của "nền dân chủ đích thực" dưới thể chế đa đảng mà ai đó vẫn hằng ca ngợi không tiếc lời?

Nhìn trên bình diện quốc tế, nếu hiểu một cách sơ giản rằng, đỉnh cao của sự phát triển dân chủ là quyền tự quyết dân tộc, thì tại sao ngay cả những quốc gia hằng rêu rao và tự cho mình là dân chủ lại đem quân xâm chiếm các nước khác, dùng đủ thủ đoạn để khống chế, cô lập, cột chặt số phận các quốc gia, dân tộc khác vào “cỗ xe lịch sử” của mình? Chỉ hai thập kỷ này, phải chăng một số ít “nước lớn dân chủ” đã khởi hấn tối thiểu  20 cuộc “can dự” như thế, hoặc bằng kinh tế hoặc bằng quân sự, hàng chục cuộc can thiệp ngấm ngầm làm cho bầu cử rối loạn, khuynh đảo kinh tế ở các nước lục địa châu Phi, châu Mỹ La-tinh, hàng chục xảo thuật ;”mua chuộc”, “giương đông kích tây” để các nước gây thù oán, đâm chém lẫn nhau, các nền độc lập của các quốc gia bị đặt trong tình trạng “trứng để đầu đẳng”,  thì đó lại là dân chủ ư? V.v.

Mặc dù sự khái lược trên chưa thật đầy đủ về tính chất các nền dân chủ ở các nước đa nguyên đa đảng, nhưng cũng đủ cho thấy rõ ràng rằng quy mô, tính chất, mức độ và trình độ dân chủ không bị quyết định bởi thể chế đa đảng hay một đảng. Nếu như vậy thì vấn đề một đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam hiện nay, thử hỏi có gì là nghịch lý đối với việc xây dựng và thực thi nền dân chủ ở Việt Nam?! Nhân đây, cũng được nói thêm lần nữa, rằng, ở Việt Nam, ngay năm 1945, nghĩa là sau khi Việt Nam giành được độc lập từ tay thực dân, đã từng có rất nhiều đảng trên chính trường tranh quyền lãnh đạo đất nước, cho tới tận những năm 90 của thế kỷ XX. Và, các đảng này, qua sự sàng lọc của thực tiễn và sự lựa chọn của nhân dân, hoặc tự rút lui hoặc bị đào thải khỏi vũ đài lịch sử. Và, hiện nay, chỉ còn duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.  Còn dân chủ ở Việt Nam, lúc bấy giờ, ít ai không biết. Vì thế, một đảng hay nhiều đảng không hoàn toàn quyết định quy mô, tính chất hay trình độ  của nền dân chủ. Thậm chí nhiều đảng có nguy cơ làm rối loạn nền dân chủ quốc gia, đe dọa số phận dân tộc, như bất cứ ai cũng thấy, đang diễn ra ở một số nước hiện nay.

Dân chủ là khát vọng của toàn nhân loại, nó mang giá trị chung của nhân loại. Nhưng trên con đường vươn tới khát vọng đó nó bị chi phối bởi các đảng chính trị và mang dấu ấn của điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Các con đường vươn tới dân chủ, do đó cũng khác nhau. Việc một đảng duy nhất ở Việt Nam hay nhiều đảng ở các nước khác trong thực thi dân chủ là lẽ bình thường, tùy thuộc vào mỗi nước. Chúng ta không kỳ thị, bài xích. Nhưng, chúng ta không dung thứ bất cứ sự rập khuôn, bắt chước hay sự áp đặt nào, vì như thế là thất bại. Chúng ta càng không chấp nhận việc lợi dụng cái gọi là dân chủ để làm rối loạn tình hình, làm méo mó hoặc thui chột quyền dân chủ của nhân dân, vi phạm độc lập chủ quyền và quyền tự quyết của mình và của bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Ấy cũng chính là dân chủ nhất. Làm trái thế, là vi phạm dân chủ, là phi dân chủ. Đó là quy luật.

Nên, thiển nghĩ, không phải chuyện cứ tưởng muốn nhiều dân chủ thì cần phải nhiều đảng một cách hình thức và ô hợp, Ấy cũng chính là dân chủ nhất rồi a dua, phụ họa, như cách hiểu, cách nghĩ và hành xử của một số người vĩ cuồng ở ta, suốt mấy năm qua và kéo tới tận hôm nay.