TỌA ĐÀM: NHẬN DIỆN SUY THOÁI VÀ “TỰ CHUYỂN HÓA” QUA BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG: Phát biểu của ông Lương Ngọc Vĩnh, Trưởng Khoa Tuyên truyền Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Thứ năm, ngày 2 tháng 11 năm 2017 | 14:50

Chào mừng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, ngày 27/10, Cổng Thông tin Điện tử Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Tạp chí Người Làm Báo, Báo Nhà báo và Công luận tổ chức cuộc tọa đàm: Nhận diện suy thoái và ‘tự chuyển hóa” qua báo chí Truyền thông. Toạ đàm nhằm khẳng định những giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga (CMTM), nhận diện sâu thêm về những thăng trầm của lịch sử trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH), sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Cổng TTĐT Hội Nhà báo Việt Nam xin giới thiệu phát biểu của ông Lương Ngọc Vĩnh, Trưởng Khoa Tuyên truyền Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

TS Lương Ngọc Vĩnh, Trưởng Khoa Tuyên truyền- Học viện Báo chí và Tuyên truyền phát biểu tại Tọa đàm

Câu chuyện về các kiến nghị đòi cải cách chính trị. Có thể nói: Đa đảng, hay một đảng, mỗi thể chế đều có những mặt ưu, mặt khuyết. Qua phân tích trên đây, chúng ta thấy vấn đề không phải ở đa đảng hay một đảng, mà vấn đề chúng ta có những sai lầm, thiếu sót, bệnh chủ quan, giáo điều đã làm cho mô hình CNXH ở nước ta có nhiều sai lệch, khuyết tật, bất cập. Có những việc nói ra nhưng không làm được, có nhiều mặt tiêu cực chúng ta càng chống càng phát triển. Nhiều vấn đề hại nhiều, lợi ít nhưng lại duy trì quá lâu, như cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu,bao cấp; cơ chế xin cho và bệnh dân chủ hình thức...Thưa TS Lương Ngọc Vĩnh, ông suy nghĩ như thế nào về những vấn đề này?

Tôi đồng ý với quan điểm của MC, đúng là mỗi thể chế dù đa đảng hay một đảng đều có mặt tích cực và hạn chế của nó. Điều này không phải nói theo kiểu dung hòa, ba phải mà xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Còn lẽ thông thường, trên đời này chẳng có gì là hoàn hảo, tuyệt mĩ cả, được cái này lại mất cái khác thế thôi, vấn đề là anh lựa chọn thể chế nào. Vì vậy, theo tôi nghĩ các nhà lý luận, các chính khách nên bớt tranh cãi đi, bởi ai cũng có lý do của mình, cãi nhau liệu đến bao giờ mới thôi. Mặc cho các vị cứ tranh cãi, còn người dân họ có cái lý riêng của mình. Đối với nhân dân, thế chế nào mang lại cho họ cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn thì đó là tốt và ngược lại, đơn giản vậy thôi.

Trong kháng chiến, Đảng ta chiến đấu, hy sinh để mang lại cho người dân cuộc sống tốt đẹp hơn nên được dân yêu, dân tin, chấp nhận thể chế  một đảng cầm quyền. Nhưng khi nắm được quyền lực thì những mặt khiếm khuyết của thế chế này như MC vừa liệt kê mới bộc lộ ra và  ngày càng trầm trọng. Điều đó khiến lòng dân không vui và niềm tin yêu vào Đảng bắt đầu giảm sút.  Và chiều theo ý số đông, một số người hay chữ  mới nâng tầm lên thành lý luận về  khuyết tật của thể chế một đảng cầm quyền và  đưa ra các kiến nghị cải cách thể chế chính trị mà thực chất là tìm lý do để bác bỏ vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng ta.

Tôi biết họ cũng thừa hiểu thể chế nào mà chả có cái hay, cái dở nên chúng ta chẳng việc gì phải sợ các ý kiến này, thậm chí nên khuyến khích họ nói, càng rõ càng tốt để ta biết mà khắc phục những khuyết tật cố hữu của nó để mình ngày càng tốt hơn. Cái đáng sợ hơn là niềm tin yêu của dân vào Đảng đang giảm sút vì mặt tốt thì ngày càng ít mà mặt xấu thì ngày càng nhiều.  Đó mới là vấn đề đáng báo động, là nguy cơ đe dọa đền sự tồn vong của Đảng và chế độ, bởi đẩy thuyền cũng là dân và lật thuyền cũng là dân. Muốn làm cho dân yêu thể chế một đảng cầm quyền, chẳng có cách nào khác là phải làm cho đời sống vật chất, tinh thần của dân ngày càng tốt hơn và hình ảnh của Đảng phải đẹp hơn trong mắt nhân dân.

Tôi nghĩ Đảng ta đã biết rất rõ điều này bởi nó đã được khẳng định trong nghị quyết ĐH XII và cụ thể hơn ở NQTW IV khóa XII vừa rồi. Quan trọng là chúng ta có đủ quyết tâm chính trị để phát huy ưu điểm và kiềm chế, khắc phục những hạn chế bất cập của thể chế một đảng cầm quyền ở đất nước chúng ta hay không mà thôi.

Thưa TS Lương Ngọc Vĩnh, như loạt bài báo nói trên nhận định thì vấn nạn “chạy” là vấn đề nóng bỏng lâu nay. Trong lúc này, cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang ở giai đoạn quyết liệt, phong trào đang lên thì “chạy” vẫn diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, việc chống tham nhũng là vô cùng khó khăn. Ông suy nghĩ gì về cuộc chiến này để chống “giặc nội xâm” có hiệu quả và đi đến thành công?

Tôi nghĩ vấn nạn “chạy” vẫn còn hoành hành vì nó còn có cửa để mà chạy, cửa trước đóng thì người ta chạy cửa sau, cửa đóng ban ngày thì người ta chạy cửa ban đêm. Lò cháy rồi nhưng sức nóng của nó làm sao có thể sưởi ấm đến tận hang cùng ngõ hẻm. Chỉ khi nào ta bịt hết cửa và người được “chạy” không tiếp tay thì vấn nạn “chạy” thì lúc đó mới hết đất sống.

Tất nhiên chống “chạy” với chống tham nhũng là hai vấn đề rộng hẹp khác nhau. Nếu nói về triển vọng cuộc chiến chống “giặc nội xâm” thì theo tôi, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải xác định phương châm:  trường kỳ kháng chiến; phải đánh kiên trì, liên tục từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác thì mới thành công. Bởi chúng ta để tình trạng này quá lâu, quá mù ra mưa rồi, đến nỗi cái xấu, cái ác lớn mạnh hơn cả cái tốt, cái tích cực. Tư duy như vậy thì chống tham nhũng mới không nôn nóng, bốc đồng, cực đoan, chạy theo phong trào. Ngược lại, phải có mục tiêu, lộ trình, chiến thuật, kế hoạch từng bước rõ ràng và  quan trọng là phải xây dựng được lực lượng phò chính diệt tà  ngày càng lớn mạnh. Bởi lẽ chiến tranh chống “giặc nội xâm” cũng tuân theo quy luật nghiệt ngã là mạnh được yếu thua, chẳng có ngoại lệ nào khác. Muốn đánh thắng trong cuộc chiến này, theo tôi phải có 4 yếu tố: 

- Thứ nhất, Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, dám đánh, quyết đánh (còn cái lai quần cũng đánh) và quyết thắng, chứ đánh chuột lại sợ vỡ bình thì không thể nào thắng được.

- Thứ hai, phải có lực lượng chống tham nhũng đông và mạnh, đội ngũ những người chính trực phải đông hơn kẻ nhúng chàm. Tôi tạm chia Đảng ta hiện nay làm 4 phần, người tâm huyết, chính trực chỉ chiếm ¼, bộ phận không nhỏ suy thoái chiếm  ¼, còn lại ½  vì cuộc sống nên đang bị cuốn vào vòng xoáy để tìm cơ hội sinh tồn. Nếu ta chống tham nhũng mạnh, số người này sẽ ngả sang phía chúng ta thì lực lượng chính nghĩa sẽ đông hơn. Nếu Đảng mạnh dạn  xin lỗi nhân dân, hứa với nhân dân quyết tâm đánh tham nhũng để dân giám sát thực hiện thì dân sẽ  hăng hái ủng hộ và đi theo. Làm được như vậy lực lượng chính nghĩa sẽ mạnh lên gấp bội phần và như thế mới có thể giành chiến thắng.

Thứ ba, người chỉ huy trong cuộc chiến chống giặc nội xâm đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Đảng phải tìm ra những người vừa có tài, vừa có đức để chỉ huy cuộc chiến này thì mới có thể thành công. Tài thì tất nhiên rất cần, nhưng đặc thù cuộc chiến này rất cần cái đức. Sự chính trực, liêm khiết của người chỉ huy chính là hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết mọi lực lượng tham gia chiến đấu chống kẻ thù chung là tham nhũng.

Thứ tư, một yếu tố hết sức quan trọng  là vũ khí chống “giặc nội xâm” vừa phải có  độ chính xác cao, hỏa lực mạnh, tầm bắn xa, phù hợp thời đại 4.0. Trong cuộc chiến này, vũ khí hữu hiệu nhất đó là luật pháp. Luật pháp chống tham nhũng phải đầy đủ, bịt hết mọi kẽ hở thì mới hết chỗ cho tham nhũng và quan trọng là phải thực thi hết sức nghiêm minh. Một vũ khí không kém phần sắc bén đó chính là truyền thông. Truyền thông phải góp phần đưa ra ánh sáng, công khai, minh bạch hóa thông tin để hạn chế bóng tối nơi dung dưỡng cho tham nhũng, tiêu cực hoành hành.

Thưa TS Lương Ngọc Vĩnh, tham nhũng quyền lực trong công tác cán bộ và mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức là hai yếu tố đang làm cho nguy cơ đe dọa sự tồn vong chế độ ngày càng nghiêm trọng thêm. Ông nhận định thế nào về vấn đề này?

Tôi đồng ý với ý kiến đó và cũng đang rất trăn trở về vấn đề này. Thứ nhất  vấn đề cán bộ và công tác cán bộ đã được chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta coi trọng  từ  rất sớm. Cán bộ và công tác cán bộ được coi là nguyên nhân của mọi nguyên nhân trong thành công hay thất bại của cách mạng. Chỉ có điều, chúng ta nói thì rất hay nhưng không chịu làm nó mới đến nông nỗi như hiện nay. Ta cũng có đầy đủ quy chế, quy trình, quy định về công tác cán bộ cả rồi đấy. Nhưng cũng như luật pháp vấn đề là thực hiện không nghiêm. Đến giờ mọi cái sai lầm, khuyết điểm trong công tác cán bộ mới bộc lộ ra từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Tôi nói thật, trong con mắt dân, hình ảnh người cán bộ bây giờ xấu xí lắm. Không con ông cháu cha, thì cũng chạy chọt, không tham nhũng thì sao mà giàu thế…

Theo tôi quan trọng nhất hiện nay là chọn được người có tài và có tâm để làm tham mưu về công tác cán bộ, đồng thời  phát huy trách nhiệm đi đôi với kiểm soát  quyền lực của người đứng đầu.

Thứ hai là công khai minh bạch mọi vấn đề về công tác cán bộ, trừ bí mật quốc gia.

Thứ ba là tăng cường giám sát của cấp trên, của nhân dân đối với công tác cán bộ, bản thân người đi giám sát cũng phải được giám sát.

Vấn đề dân chủ thì quá rõ rồi.  Mất dân chủ hay dân chủ hình thức, giả hiệu suy đến cùng đều là không thực hiện dân chủ cả thôi. Không dân chủ là không tôn trọng người dân, không lắng nghe tiếng nói của người dân, không cho người dân thực hiện cái quyền của mình như Bác nói: bao nhiêu quyền lực đều ở nơi dân. Đảng tồn tại dựa trên niềm tin của dân, niềm tin không còn thì Đảng cũng chẳng có lý do gì để tồn tại. Quyền lực nhà nước là do dân ủy quyền, nếu dân không tin, đòi lại  quyền thì chế độ sụp đổ cũng là đương nhiên. Tôi muốn nói thêm một thực tế này, là thực thi dân chủ trong xã hội có khác với dân chủ trong hệ thống chính trị. Khi tổ chức đảng, chính quyền  bị nhóm lợi ích thâu tóm, khi người tích cực trở nên  đơn thương, độc mã bởi người tiêu cực chiếm số đông thì người ta rất dễ lợi dụng dân chủ để hạ bệ, lật đổ người tốt và được ngụy trang khéo léo bởi ý kiến đa số.  Đây là nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cả một tổ chức, rất nguy hiểm.

 TS Lương Ngọc Vĩnh