Tọa đàm trực tuyến: Nhận diện suy thoái và “tự chuyển hóa” qua báo chí truyền thông

Thứ sáu, ngày 27 tháng 10 năm 2017 | 16:7

Toạ đàm nhằm khẳng định những giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga (CMTM), nhận diện sâu thêm về những thăng trầm của lịch sử trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH), sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Chào mừng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, hôm nay (27/10), Cổng Thông tin Điện tử Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Tạp chí Người Làm Báo, Báo Nhà báo và Công luận tổ chức cuộc tòa đàm: Nhận diện suy thoái và ‘tự chuyển hóa” qua báo chí Truyền thông.

Toạ đàm trực tuyến Nhận diện suy thoái và “tự chuyển hóa” qua báo chí truyền thông (Ảnh: Sơn Hải)

Cũng qua tọa đàm trực tuyến, đồng thời phê phán nhận thức lệch lạc, chệch hướng, tôn sùng chủ nghĩa đa nguyên, chủ nghĩa cá nhân của một số cán bộ đảng viên thông qua các tác phẩm báo chí truyền thông, góp phần cùng toàn Đảng xây dựng quyết tâm chống “ giặc nội xâm”; sửa chữa sai lầm, khuyết điểm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo; tạo được bước đột phá mới trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, củng cố được niềm tin của nhân dân tiếp tục đi theo ánh sáng của CMTM.

Toạ đàm Nhận diện suy thoái và “tự chuyển hóa” qua báo chí truyền thông tập trung vào 3 nội dung chính: Một là, Cách mạng Tháng Mười và tương lai nhân loại; Hai là, nhận diện suy thoái và “tự chuyển hóa” của một bộ phận đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, những hệ lụy và nguyên nhân của suy thoái, “tự chuyển hóa”; Ba là, các giải pháp quan trọng chống suy thoái và “tự chuyển hóa” với mục đích nhằm tuyên truyền ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười đối với Việt Nam qua các thời kỳ; khẳng định tính đúng đắn đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, phê phán những nhận thức lệch lạc, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong Đảng.

Tọa đàm trực tuyến nhằm góp phần tuyên truyền sâu rộng hơn nhiệm vụ phòng chống tham nhũng, lãng phí đang đi vào giai đoạn cao trào, động viên khích lệ toàn dân tham gia nhiệm vụ này đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời góp phần tuyên truyền định hướng, giúp công chúng báo chí nâng cao nhận thức về yêu cầu cấp bách chống “giặc nội xâm” và xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn đấu tranh giữ vững con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Toạ đàm được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 100 năm CMTM thành công, cũng chính là một hành động để giới báo chí chúng ta góp một tiếng nói trong tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” theo nội dung Nghị quyết TW 4 khóa XII, được thể hiện kịp thời trên diễn đàn báo chí - truyền thông đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của Đảng, đúng tinh thần Nghị quyết, đúng đối tượng tuyên truyền, theo phương thức tuyên truyền phù hợp với từng loại hình báo chí, từng cơ quan báo chí

8h15 : PGS. TS Nguyễn Thành Lợi- Ủy viên Ban Chấp hành HNBVN, Tổng Biên tập Tạp chí Người Làm Báo tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu.

Khách mời tham dự  tọa đàm hôm nay có Nhà báo Hà Đăng – Nguyên Bí thư Trung ương Đảng – Nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa TW, Nguyên TBT Báo Nhân dân; TS. Nhà báo Nhị Lê – Phó Tổng BT Tạp chí Cộng sản; TS. Hoàng Xuân Lương – Giám đốc TT Nghiên cứu quyền con người;

Về phía HNBVN có các đồng chí: Hồ Quang Lợi - Phó Chủ tịch Thường trực HNBVN; Phan Khắc Hải- Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Thường trực HNBV; Lê Quốc Trung – Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam; Hà Minh Huệ - Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam; Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, các đồng chí Lãnh đạo Học viện Báo chí Tuyên truyền, Khoa Báo chí Tuyên truyền – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Các đồng chí Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Hà Nội và các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, các tỉnh Đồng bằng và trung du Bắc bộ; Các đồng chí Lãnh đạo các Ban, Văn phòng, các Đơn vị thuộc cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam

Đặc biệt tại cuộc tọa đàm này có các nhà khoa học, các nhà lý luận, hoạt động thực tiễn và đại biểu cán bộ hưu ở cơ sở: *TS. Hoàng Xuân Lương – Giám đốc TT Nghiên cứu quyền con người; TS. Nhà báo Nhị Lê – Phó Tổng BT Tạp chí Cộng sản; TS Lương Ngọc Vĩnh – Trưởng khoa Tuyên truyền – Học viện Báo chí Tuyên truyền; Bác Nguyễn Danh Giáp – Đại tá Quân đội nghỉ hưu tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội; cùng các phóng viên, biên tập viên của gần 30 cơ quan báo chí đã đến dự.

8h25: Phát biểu khai mạc Tọa đàm, nhà báo Hồ Quang Lợi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam nêu rõ, thế giới đã trải qua 100 năm lịch sử kể từ Cách mạng Tháng Mười (CMTM) Nga thành công.

CMTM là một cuộc cách mạng làm rung chuyển, sắp xếp lại trật tự thế giới. Từ ánh sáng của Chủ nghĩa Mác- Lê nin và CMTM, một trăm năm qua, hàng trăm cuộc đấu tranh với quy mô lớn của Nhân dân các dân tộc thuộc địa, người lao động bị áp bức bóc lột đã vùng lên chống lại sự nô dịch, áp bức, cường quyền của Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân. CMTM đã mở ra một thời đại mới thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH.

 Nhà báo Hồ Quang Lợi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam phát biểu khai mạc tọa đàm (Ảnh: Sơn Hải)

Đồng chí Hồ Quang Lợi khẳng định, CNXH tuy mới ra đời, đã giành được nhiều thắng lợi huy hoàng, thành công vang dội trong đấu tranh giải phóng,giành độc lập tự do cho các dân tộc thuộc địa, “đưa người nô lệ thành người tự do” và tạo ra được nhiều thành tựu mới chinh phục thiên nhiên,giải phóng sức lao động của con người, xác lập địa vị mới của giai cấp công nhân và người lao động... Tuy nhiên do trải bước trên con đường mới, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, nhiều vấn đề còn mang tính thử nghiệm,cùng với sự nóng vội, bệnh chủ quan duy ý chí và giáo điều, các đảng cộng sản đã gặp những sai lầm trong tổ chức xây dựng mô hình xã hội mới. Có thể nói 100 năm qua, Chủ nghĩa xã hội ra đời và thắng thế, nhưng do những sai lầm, CNXH đông âu và liên xô sụp đổ sau 73 năm xây dựng, hệ thống CNXH tan rã và đang đứng trước nhiều khó khăn thử thách.

 Theo đồng chí Hồ Quang Lợi, Ở nước ta, nhờ có CMTM và Chủ nghĩa Mác Lê Nin soi sáng,dưới sự lảnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ chí minh, trong gần 90 năm qua Nhân dân ta đã làm nên nhiều sự kiện chấn động thế giới,đất nước ta đã trải qua những thời kỳ lịch sử vẻ vang, oanh liệt chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng XHCN ở nước ta đang gặp nhiều khó khăn. Chúng ta đã có bài học thực tiễn về nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Đông âu và Liên xô. Chúng ta đã có bước trải nghiệm của 30 năm đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đối chiếu với mục tiêu mà chúng ta phấn đấu là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ, văn minh và so sánh với mục tiêu chế độ XHCN, có thể nói chúng ta còn nhiều việc phải làm . Biểu hiện rõ nét nhất là sự công bằng, dân chủ trong xã hội và đạo đức con người gần đây có những biến thái phức tạp, mà đảng ta đã nêu ra các khái niệm: Suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong đảng và trong bộ máy nhà nước. Sự suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hoá cùng với sự phát triển của nạn tham nhũng,đã làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với đảng và thể chế chính trị hiện thời.

Đồng chí Hồ Quang Lợi nhấn mạnh, cuộc toạ đàm trực tuyến Nhận diện suy thoái và “tự chuyển hoá” qua báo chí truyền thông nhằm khẳng định những giá trị lịch sử của CMTM, nhận diện sâu sắc về những thăng trầm của lịch sử trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” đồng thời phê phán nhận thức lệch lạc, chệch hướng, tôn sùng chủ nghĩa đa nguyên, chủ nghĩa cá nhân của một số cán bộ đảng viên thông qua các tác phẩm báo chí truyền thông, góp phần cùng toàn đảng, toàn dân xây dựng quyết tâm chống “giặc nội xâm” sửa chữa sai lầm, khuyết điểm xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo, tạo được bước đột phá mới trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, củng cố được niềm tin của nhân dân tiếp tục đi theo ánh sáng của CMTM.

Đồng chí Hồ Quang Lợi mong muốn cuộc toạ đàm diễn ra sôi nổi, có nhiều ý kiến tham luận phát biểu có chất lượng, chuyển tải được nhiều thông điệp,thông tin có giá trị đến với giới báo chí và công chúng trong và ngoài nước.

8h35: Chia sẻ tại tọa đàm, Nhà báo lão thành Hà Đăng nêu rõ: Tôi nghĩ nội dung cuộc toạ đàm có ý nghĩa rất quan trọng và phù hợp với thời điểm hiện nay. Thời gian diễn ra cuộc tọa đàm tuy không dài nhưng đủ để chúng ta vẽ nên một bức tranh vừa sáng đẹp và có những góc khuất mà chúng  ta có thể nhìn thấy. Đồng thời, thông qua đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng 10, và qua cuộc sụp đổ của Liên xô để chúng ta rút ra những kinh nghiệm quý báu…

Nhà báo Hà Đăng phát biểu tại Tọa đàm (Ảnh: Sơn Hải)

 Đối với Việt Nam, chúng ta tôn vinh lịch sử  và ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng 8 trong công cuộc xây dựng lịch sử đất nước suốt mấy chục năm qua, đưa đất nước phát triển, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, chúng ta đang đứng trước không ít những thách thức, vì vậy, hiện nay việc đấu tranh chống lại sự suy thoái và sự “tự chuyển hoá” là điều vô cùng cần thiết. Qua đó, chúng ta sẽ rút ra các bài học, rằng cách mạng phải làm thế nào và có lòng tin về sự thành công của công cuộc đấu tranh sắp tới…

8h40: Câu hỏi đầu tiên BTC dành cho TS Hoàng Xuân Lương, GĐ TT Nghiên cứu Quyền con người vùng dân tộc và miền núi. Thưa ông,còn mấy ngày nữa là chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày cách mạng Tháng Mười(CMTM) Nga thành công,xin Ông cho biết suy nghĩ của mình về giá trị lịch sử của CMTM?

TS Hoàng Xuân Lương: Cách mạng tháng 10 Nga với sự ra đời Nhà nước công nông Xô Viết đầu tiên trên thế giới, tuy chỉ tồn tại 73 năm (1917 – 1990), nhưng giá trị lịch sử của Cách mạng tháng 10 Nga thì trường tồn cùng lịch sử nhân loại. Trước hết, đó là cuộc đảo lộn chính trị rất lớn, những người nô lệ bị áp bức bóc lột đã vùng lên làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình và bước ra khỏi chế độ áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản, xây dựng cuộc sống xã hội tự lực, tự cường của các dân tộc.

Nhờ có Cách mạng tháng Mười, các nước XHCN hình thành, tạo chỗ dựa vững chắc về tinh thần và vật chất kỹ thuật cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Việt Nam chúng ta, đã vùng lên thoát khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân, đế quốc. Đây là thành quả vĩ đại, vô cùng to lớn. Cách mạng tháng Mười và sự hình thành hệ thống XHCN đã thôi thúc phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân toàn Thế giới. Chính Những thành quả này của Các mang tháng Mười và chủ nghĩa xã hội đã tác động sâu sắc làm cho chính CNTB nhận ra những mâu thuẫn, bất cập để kịp thời điều chỉnh. Nếu không có Cách mạng tháng Mười, nếu không có 73 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa tư bản không bao giờ tự cải tổ để tiến bộ.

Nói một cách khác, chính những giá trị cách mạng tháng Mười, giá trị chủ nghĩa xã hội đã làm cho chủ nghĩa tư bản rút ra được kinh nghiệm bài học để nó tự đổi mới, để nó tự cải cách, cải tổ, và để tự nó tồn tại. Những nhà nghiên cứu có tính chất độc lập, như ông Deadra (một học giả Pháp rất nổi tiếng thế giới hiện nay) đã phải thừa nhận rằng:Trong biến động của thế giới hiện nay, trong những mâu thuẫn bức xúc bộc lộ ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay, thì giá trị của chủ nghĩa Mác, của CNXH càng có tính thời sự. Không phải cứ thấy sụp đổ của chủ nghĩa xã hội Liên Xô, Đông Âu, hay những khó khăn của chủ nghĩa xã hội hiện nay mà lại phủ nhận những giá trị lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản được. Tôi không đồng tình với cách phủ nhận lịch sử ấy”. Chúng ta phải nhìn lại vì sao lý thuyết thì rất hay nhưng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ? Điều đó có nghĩa là lý thuyết thì đúng, nhưng mô hình thì sai, sự lựa chọn mô hình cho một hình thái KT-XH mới là hết sức khó khăn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kẻ thù phá hoại là nguyên nhân chính làm cho chủ nghĩa xã hội sụp đổ? Nhưng tôi không đồng tình với cách đánh giá đó, vì trên thực tế, khi chúng ta chưa có Cách mạng tháng Mười, khi chưa có chính quyền trong tay,thì kẻ thù phá ta ghê gớm hơn nhiều,nhưng tại sao ta vẫn thắng và giành được chính quyền? Tôi cho rằng nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu và một số nước khác hoàn toàn do nguyên nhân chủ quan là chính, kẻ thù chống phá chỉ là một trong số các nguyên nhân làm cho tác động đổ vỡ ấy nó nhanh chóng hơn mà thôi.Tôi cho rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể chứ không phải là sự sụp đổ của lý tưởng.Bởi vì, mặc dù khó khăn như thế,XHCN đến nay vẫn tồn tại ở một số nước.

8h45: Thưa TS Nhà báo Nhị Lê, CMTM là một cuộc cách mạng vĩ đại chưa từng có trong lịch sử nhân loại. CMTM đã mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Sau CMTM trên thế giới đã xuất hiện một hệ thống các nước XHCN hùng mạnh, nhưng hệ thống đó chỉ tồn tại được 74 năm, TS cho biết về nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô?   

Nhà báo Nhị Lê: Có lẽ chẳng phải đợi cho tới nay, rất ít người không biết: Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa là quá trình nổ ra hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản trong hàng trăm năm: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng Pháp vào các năm 1789 - 1794, 1830, 1848... Không thể phủ nhận được ý nghĩa to lớn của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản cổ điển là, chúng đã xóa bỏ về cơ bản chế độ chuyên chế phong kiến, phát quang mảnh đất xã hội hiện thực cho chủ nghĩa tư bản phát triển tự do, thay thế chế độ quân chủ bằng chế độ dân chủ.

Và do đó, thế giới trước năm 1917, không còn nghi ngờ gì, là thế giới của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu sau khi chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến, và đã bành trước ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển trở thành cái gọi là “trung tâm vũ trụ” (!). Chúng chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống quốc tế, lúc bấy giờ.

Nhưng cũng vào chính những đêm trước năm 1917 ấy, lịch sử thế giới dưới sự thống trị và nhào nặn của chủ nghĩa tư bản cũng đang âm ỉ và hàm chứa những tiền đề, những dữ kiện báo hiệu một thế giới đang rạn vỡ, cấp bách đòi hỏi cần phải đổi mới cơ cấu, chất lượng và hình thức phát triển. Chủ nghĩa tư bản đã cố sức làm nhưng không thể làm khác được, tự nó bộc lộ ra rõ nhất những mắt xích, những khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chính nó. Sự rạn vỡ của thế giới, sự phát triển không đồng đều của hệ thống tư bản chủ nghĩa với những mâu thuẫn cố hữu, phức tạp mà chính nó không đủ sức giải quyết... đã làm đảo lộn tư duy, chỉnh đốn lại lực lượng cách mạng thế giới, làm xuất hiện những tình thế cách mạng xã hội mới.

Nhà báo Nhị Lê: Những ai mưu toan bôi nhọ và phủ nhận Cách mạng Tháng Mười, nói một cách hình ảnh, giống như những kẻ chém dao xuống dòng sông lịch sử đang chảy xiết, không hơn!

Trước tình hình đó, trong lúc không ít các nhà dân chủ - xã hội Nga cho rằng, trước hết, cần tạo ra những tiền đề văn minh cho chủ nghĩa xã hội đã, sau đó giai cấp công nhân mới có thể giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội..., thì V. I. Lê-nin đã đi ngược lại: kiên quyết đề nghị thay đổi trật tự thông thường đó bằng việc, trước tiên giai cấp công nhân giành lấy chính quyền, rồi sau đó, dựa vào chính quyền của mình thúc đấy sự phát triển kinh tế - xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sự vận động thực tế của nước Nga đương thời đã thừa nhận lời đề nghị đó của V. I. Lê-nin. Khẩu hiệu “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng” là khẩu hiệu đầy sáng tạo, đầy khoa  học và cách mạng. Nếu năm 1871, với cuộc cách mạng “tấn công lên trời” của Công xã Pa-ri thực sự là tiếng vọng của cuộc chiến tranh Pháp - Phổ; cuộc cách mạng Nga năm 1905 được thúc đẩy bởi sự chém giết giữa binh lính Nga và Nhật Bản; thì tương tự thế, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) đã gây bão táp ở châu Âu để cho Cách mạng Tháng Mười trở thành đỉnh cao của cơn bão táp ấy. Và là một tất yếu, Cách mạng Tháng Mười năm 1917 đã nổ ra và thắng lợi.

Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới, từ ngọn nguồn chủ nghĩa Mác. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười, chế độ tư bản chủ nghĩa hiện diện tưởng như một định mệnh, như một trật tự vĩnh hằng, thì sau Tháng Mười - 1917, không ai không thấy, canh xửa nhà tù thế giới ấy đã bị nổ tung, cái được thổi lên định mệnh ấy thành ảo tưởng, cái trật tự được tự coi là vĩnh hằng ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền cho hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, trên khắp hành tinh. Và cũng từ sau Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa xã hội thế giới hiện diện với tư cách là “một phát minh lịch sử vĩ đại nhất”, và như lời thừa nhận của chính cố Tổng thống Mỹ, ông R. Ních-xơn: “là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ XX”. Nhà nước Xô-viết – đứa con đẻ của Cách mạng Tháng Mười - đã trở thành tấm gương lịch sử hiện thực đối với các quốc gia, dân tộc vừa thoát khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực đân đã thường lựa chọn và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Rõ ràng, Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng mở đường thời đại mới, là cột mốc lịch sử báo hiệu một chiều hướng phát triển mới của nhân loại - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là cuộc cách mạng mang ý nghĩa lịch sử toàn thế giới.

Một trăm năm nhìn lại lịch sử thế giới thăng trầm, từ Cách mạng Tháng Mười, thực tiễn đã và đang chính minh một điều không thể phủ nhận được rằng: Chủ nghĩa xã hội hoàn toàn không chỉ thuần túy là tư tưởng của một giai cấp, càng không phải là một phương kế của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác, như ai đó từng nói toáng lên và huyên thiên như vậy. Đó là tư tưởng đạo lý, tư tưởng giải phóng loài người thông qua các cuộc cách mạng xã hội chống lại mọi sự phản nhân văn và phản tiến bộ, giải phóng trí tuệ và bảo đảm chất lượng cuộc sống của con người, vì sự công bằng và dân chủ, vì một thế giới tốt đẹp và thịnh vượng. Và do đó, con đường mà cuộc Cách mạng Tháng Mười mở ra càng rõ ràng là con đường phát triển tự nhiên và tất yếu của thời đại xã hội chủ nghĩa bất diệt.

Khi trận “động đất lịch sử” của chủ nghĩa xã hội năm 1991 xảy ra, đã đẩy hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng chưa từng có; và người ta kết tội vô cớ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, trong đó một số người từng “ăn theo” và phất lên nhờ cuộc Cách mạng ấy cũng trở cờ hạ nhục chân lý vĩ đại từ cuộc Cách mạng đó! Và, tất cả họ quay ra cổ súy, tung hô chủ nghĩa tư bản. Nhân thế, ở Việt Nam, nhiều người “theo đuôi” những người ấy, lại mang tâm lý thù ghét, họ quay ra xúc xiểm, nhắm mắt phủ nhận bừa cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam; thù địch phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới ngọn cờ của cuộc Cách mạng Tháng Mười. V.v. và v…

Điều sơ đẳng nhất ở đây sẽ là: Nếu sự xấu hổ giết chết con người thì những kẻ “ăn theo” rồi bôi nhọ các cuộc Cách mạng ấy đáng phải chết nhiều lần. Vì, nhân thế cho thấy, ai không biết xấu hổ thì không thể thành người được! Tôi chưa nói tới sự tráo trở và phản trắc!

Thành quả vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười chỉ duy trì và phát triển gần 74 năm, kể từ năm 1917 tới năm 1991, khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ. Vì sao như vậy? Lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có một điều không ai phủ nhận được, rằng dưới ngọn cờ đó, hàng loạt các cuộc cách mạng từ Á sang Âu tới Mỹ La-tinh nổ ra và thành công - cái quả lịch sử của cây Cách mạng này đã “nảy mầm”: Việt Nam năm 1945, Trung Quốc năm 1949, Cu Ba năm 1959 và nhiều quốc gia dân tộc khác, làm nên một hệ thống thế giới, đi trên con đường xã hội chủ nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Không ai cưỡng được! Và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các quốc gia Đông Âu khác, do nhiều nguyên nhân, nhưng căn bản nhất, họ đã nhân danh Đảng Cộng sản, thậm chí mạo danh cách mạng và đi chệch khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa mà cuộc Cách mạng này vạch ra. Sự sụp đổ cũng không gì cứu vãn được! Một cuộc cách mạng không biết tự bảo vệ mình thì sự thất bại do sai lầm, bạc nhược, mất lòng dân, do bị phản bội…, cũng tất yếu như sự nó phải sinh ra, và cả hai đều là như nhau. Thực tiễn một trăm năm qua là hợp lý, hợp lý đến mức không thể chối cãi được về một chân lý rõ ràng: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô với tất cả những gì nhân danh cuộc Cách mạng Tháng Mười bị sụp đổ chứ cuộc Cách mạng ấy không bị  phá sản. Nhân loại tiến bộ dù đã chứng kiến những tấn bi hùng trong lịch sử phát triển của mình, nhưng không gì cản nổi, đang và sẽ tiếp tục hướng về, đi tới cái tất yếu chủ nghĩa xã hội mà Cách mạng Tháng Mười là cái đầu tàu mở đường thời đại ấy - thời đại nhân loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội - không gì cưỡng được.

Đó là chân lý! Sự thật có thể có nhiều, nhưng chân lý thì chỉ có một!

Và, hơn bao giờ hết, giờ đây, nhân loại càng cần tỉnh táo trước những thủ đoạn mới của không ít thế lực đang rắp tâm làm: Muốn xóa bỏ một quốc gia người ta tìm cách xóa bỏ quá khứ lịch sử của quốc gia đó, để hiểu vì sao người ta đang bôi nhọ và rắp mưu xóa bỏ Cách mạng Tháng Mười Nga, trên quy mô toàn thế giới. Và vì thế, dù đã trọn 100 năm trôi qua, Cách mạng Tháng Mười vẫn vẹn nguyên, vẫn nóng hổi ý nghĩa khởi nguyên từ năm 1917 - ý nghĩa lịch sử toàn thế giới, với tính cách là cuộc cách mạng vạch thời đại và là chân lý ấy, dù cho thế nào, vẫn tỏa sáng cùng lịch sử nhân loại.

Những ai mưu toan bôi nhọ và phủ nhận Cách mạng Tháng Mười, nói một cách hình ảnh, giống như những kẻ chém dao xuống dòng sông lịch sử đang chảy xiết, không hơn!

8h53: Thưa TS. Hoàng Xuân Lương: Sụp đổ CNXH ở Đông Âu và Liên Xô nguyên nhân chính là do sai lầm của đảng cộng sản.Trong giai đoạn này CNTB có sự phát triển mạnh về kinh tế và điều chỉnh chính sách xã hội có tác động ảnh hưởng đến phong trào công nhân,nhưng rõ ràng không phải là nguyên nhân dẫn đến CNXH sụp đổ. Ở Việt nam đã có bài học từ Đông Âu,Liên Xô nhưng hiện nay đang hiện hữu nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ,vậy nguyên nhân là gì thưa ông?

TS Hoàng Xuân Lương phát biểu tại tọa đàm (Ảnh: Tạp chí Người Làm Báo)

TS Hoàng Xuân Lương: Nguyên nhân của vấn đề này đã được trình bày rõ trong báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng, ở đây tôi muốn nói đến điều mà tôi nhận thức là cơ bản nhấtcon đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho là rất đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhưng trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội lại gặp rất nhiều khó khăn. Niềm tin trong nhân dân đang dần suy giảm. Là một người đã từng tham gia nghiên cứu, tham gia quản lý xã hội ở một lĩnh vực nhất định, tôi cũng như rất nhiều học giả khác, nhiều cán bộđảng viên khác cũng rất buồn lòng trước thực trạng này. Chúng ta cần bình tĩnh nhìn nhận lại.Mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hộichỉ được mấy chục năm, với thời gian không dài để thử nghiệm một mô hình mới, tất nhiên nó sẽ gặp không ít khó khăn. Điều quan trọng nhất của Đảng, Chính quyền và nhân dân ta là trước những vấp ngã ấycần dũng cảm nhìn ra nó để tìm cách khắc phục, giúp nó đi đúng quỹ đạo.

Chúng ta trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê Nin là đúng, nhưng khi vận dụngvào trong hoàn cảnh của nướcta, cần phải xem xét hoàn cảnh cụ thể. Bác Hồ đã từng có một chỉ dẫn: Cơ sở lịch sử của Chủ nghĩa Mác là gi?  Cơ sở lịch sử của Chủ nghĩa Mác là Phương Tây, Phương tây chưa phải là tất cả, cần phải bổ sung chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông. Trên thực tế, khi áp dụng mô hình XHCN của Liên Xô và các nước Đông Âu vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, không thể rập khuôn máy móc, áp dụng giáo điều.

Tôi cho rằng tất cả mọi vấn đề phải bắt đầu phải giải quyết từ Lý thuyết phát triển, từ Mô hình, thể chế, chế độ sở hữu, quản trị xã hội…

9h17: Thưa TS - Nhà báo Nhị Lê: TS. Hoàng Xuân Lương vừa nêu nguyên nhân dẫn đến nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ XHCN, con đường đúng đắn mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhưng con đường này cho đến nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức,mà thách thức lớn nhất là niềm tin của nhân dân đối với đảng và thể chế chính trị,do một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái,"tự diễn biến,tự chuyển hoá". Lợi dụng những thử thách này mà một số người cổ xuý cho chế độ đa nguyên, đa đảng họ kiến nghị đảng ta cải cách chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và thay đổi hiến pháp. Như vậy trong xã hội ta vẫn còn những quan điểm cho rằng vì ta không chấp nhận đa nguyên, đa đảng mới dẫn đến nguy cơ đe dọa chế độ nói trên. Nhà báo suy nghĩ về vấn đề này như thế nào?

TS – Nhà báo Nhị Lê: Kỳ thực đây là vấn đề đã trở nên cũ rích từ hai mươi năm trước.

Nhưng, gần đây, ở nước ta, nhân những vụ gây rối mang màu sắc chính trị ở nơi này nơi khác, một số người mệnh danh là “dân chủ” được thể bới lại và tung hê lên vấn đề đa đảng hòng đánh lừa hoặc lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin theo ý đồ chính trị đen tối của chúng, về cái gọi là dân chủ và đa đảng.

Họ nói là, "chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc nhất một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được"(!); rằng, "ở Việt Nam muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng như nước ngoài họ đã từng làm"(!). Thậm chí có người "tát nước theo mưa", làm ra vẻ “uyên bác”, “đánh tráo lịch sử" kiểu ngài Ơ. Đuy-rinh, diễn trò "đảo lộn khoa học”  nhằm mưu đồ làm “con ngựa gỗ thành Tơ-roa”, "theo đóm ăn tàn"... bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, qua việc  cái gọi là “khuyến nghị” tập thể, nhưng kỳ thực là, mưu toan xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, nhằm lật đổ Đảng(!).

Có thật trên thế giới, muốn có dân chủ thì phải đa đảng không? Không. Thực tế đang chống lại họ. Chẳng hạn, ở Mỹ, dù ở mức độ này khác, nhưng ai cũng thấy rằng, suốt hơn 220 năm qua, kể từ khi nước Mỹ ra đời, trong bối cảnh rất nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng - Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ - hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản lũng đoạn thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng không ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa chúng, và nếu có khác chăng thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách rất nhỏ mà thôi. Trong lúc đó, Đảng Cộng sản Mỹ - với lịch sử hơn một trăm năm, người đại diện và đấu tranh không mệt mỏi vì quyền lợi của hàng triệu công nhân Mỹ và những lý tưởng cao đẹp - có những thời kỳ bị loại ra ngoài vòng pháp luật, các đảng viên của Đảng luôn bị đe dọa, ám sát và bị khủng bố. Và ngày nay, luật pháp Mỹ đã “khoanh tròn” hoạt động của Đảng Cộng sản Mỹ trong không gian chính trị nhỏ bé và ngột ngạt nên chẳng có cơ may phát triển, còn nói gì đến cái gọi là dân chủ trong việc đấu tranh giành vị trí cầm quyền. Phải chăng đó là dân chủ?, là sự "thuận lý"? Ấy là chưa kể đến hàng loạt thủ đoạn tinh vi, bẩn thỉu: mua chuộc, đe doạ, ám sát lẫn nhau giữa hai đảng đó nhân những cuộc bầu cử, vận động chính trị.

Nếu  họ cho rằng, phổ thông đầu phiếu là một trong những biểu hiện cao nhất của nền dân chủ, thì thật khó hiểu khi việc xác lập tư cách cử tri cũng là một cuộc vật lộn, tranh đấu thậm chí đẫm máu ở các nước tư bản. Hẳn ai cũng biết, ở Anh - năm 1928; Pháp - 1944; I-ta-li-a - 1945; Tây Ban Nha - 1970; Thụy Sĩ - năm 1971, Mỹ phải đợi đến năm 1920, phụ nữ ở các nước này mới có quyền đi bầu cử. Nói rằng, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân thì quyền đó ở chỗ nào? Phải chăng như thế là dân chủ?

Điều mà họ cho là "thuận lý" khi nói tới chế độ tam quyền phân lập là cơ chế bảo đảm cho nền dân chủ, song thực tế thì sao? Có thể thấy ngay, ở các quốc gia vừa nêu trên, nhà nước tam quyền nhưng không ở nơi đâu có sự phân lập hoàn toàn. Không ai có thể nhớ nổi các tổng thống đã bao lần phủ quyết các dự luật của quốc hội. ở nhiều nước khác, tổng thống, thậm chí cả thủ tướng có quyền tuyên bố giải tán quốc hội, khi thấy nó trái với mình. Quyền ra dự luật chỉ thuộc thẩm quyền các nghị sĩ chứ đâu thấy quyền đó ở các tổ chức chính trị và xã hội. Đương nhiên, người công dân thì bị "bỏ qua" hẳn trên lĩnh vực này. Phải chăng, lý tưởng của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân được hiểu và làm như thế mới là "thuận lý", là dân chủ đích thực? Và nếu được xem là dân chủ thì tại sao các bộ máy của nền dân chủ phương Tây nhiều khi đã phải đầu hàng các thế lực ma-phi-a, các thế lực lũng đoạn nhà nước, các thế lực khủng bố và thủ tiêu các quyền dân chủ và quyền con người; nhưng lại làm tốt nhất trong việc xử những người vô tội, kiên tâm, dũng cảm đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội?

Vào thập niên cuối của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, do những sai lầm, đảng cộng sản ở đó tan rã, và người ta đã quay sang buông xuôi, chấp nhận và đi vào con đường cổ vũ đa nguyên chính trị, đa đảng, nhưng vẫn không thoát khỏi sự khủng hoảng trầm trọng toàn diện. Có lẽ đại đa số nhân dân lao động Đông Âu và Liên Xô là người thấm thía sâu sắc thế nào là dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và dân chủ đa đảng. Những vụ xô xát đổ máu bùng lên. Những cuộc bài xích, đe doạ,  truy đuổi những người cộng sản liên tiếp xảy ra. Tất cả các lực lượng đối lập với Đảng cộng sản đều đồng thanh rằng, con đường dân chủ tốt nhất là để nhân dân lựa chọn đại biểu của mình trong hệ thống nhà nước. Song ở đâu, những người cộng sản thắng thế và đắc cử thì lập tức ở đó rộ lên sự chống phá, thậm chí cả đe doạ, khủng bố những người cộng sản. Thì ra, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nghĩa với việc mở rộng dân chủ; không có nghĩa là mọi người dân, mọi tầng lớp đều có quyền tham gia quản lý nhà nước. Toàn bộ những việc làm này được người ta che đậy bằng khẩu hiệu "dân chủ", "nhân quyền", được tụng ca "dân chủ thắng thế"(!). Hoá ra, tất cả đều chỉ là "những thủ đoạn chính trị tầm thường, những trò bịp bợm". Có lẽ chính trường một số nước ở châu Âu gần đây là bài học tốt nhất về dân chủ cho những ai khát khao dân chủ thấy thế nào là dân chủ xã hội chủ nghĩa do một đảng lãnh đạo và thế nào là dân chủ đa đảng. Đó là sự phong phú và sinh động của "nền dân chủ đích thực" dưới thể chế đa đảng mà ai đó vẫn hằng ca ngợi không tiếc lời?

Nhìn trên bình diện quốc tế, nếu hiểu một cách sơ giản rằng, đỉnh cao của sự phát triển dân chủ là quyền tự quyết dân tộc, thì tại sao ngay cả những quốc gia hằng rêu rao và tự cho mình là dân chủ lại đem quân xâm chiếm các nước khác, dùng đủ thủ đoạn để khống chế, cô lập, cột chặt số phận các quốc gia, dân tộc khác vào “cỗ xe lịch sử” của mình? Chỉ hai thập kỷ này, phải chăng một số ít “nước lớn dân chủ” đã khởi hấn tối thiểu  20 cuộc “can dự” như thế, hoặc bằng kinh tế hoặc bằng quân sự, hàng chục cuộc can thiệp ngấm ngầm làm cho bầu cử rối loạn, khuynh đảo kinh tế ở các nước lục địa châu Phi, châu Mỹ La-tinh, hàng chục xảo thuật ;”mua chuộc”, “giương đông kích tây” để các nước gây thù oán, đâm chém lẫn nhau, các nền độc lập của các quốc gia bị đặt trong tình trạng “trứng để đầu đẳng”,  thì đó lại là dân chủ ư? V.v.

Mặc dù sự khái lược trên chưa thật đầy đủ về tính chất các nền dân chủ ở các nước đa nguyên đa đảng, nhưng cũng đủ cho thấy rõ ràng rằng quy mô, tính chất, mức độ và trình độ dân chủ không bị quyết định bởi thể chế đa đảng hay một đảng. Nếu như vậy thì vấn đề một đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam hiện nay, thử hỏi có gì là nghịch lý đối với việc xây dựng và thực thi nền dân chủ ở Việt Nam?! Nhân đây, cũng được nói thêm lần nữa, rằng, ở Việt Nam, ngay năm 1945, nghĩa là sau khi Việt Nam giành được độc lập từ tay thực dân, đã từng có rất nhiều đảng trên chính trường tranh quyền lãnh đạo đất nước, cho tới tận những năm 90 của thế kỷ XX. Và, các đảng này, qua sự sàng lọc của thực tiễn và sự lựa chọn của nhân dân, hoặc tự rút lui hoặc bị đào thải khỏi vũ đài lịch sử. Và, hiện nay, chỉ còn duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.  Còn dân chủ ở Việt Nam, lúc bấy giờ, ít ai không biết. Vì thế, một đảng hay nhiều đảng không hoàn toàn quyết định quy mô, tính chất hay trình độ  của nền dân chủ. Thậm chí nhiều đảng có nguy cơ làm rối loạn nền dân chủ quốc gia, đe dọa số phận dân tộc, như bất cứ ai cũng thấy, đang diễn ra ở một số nước hiện nay.

Dân chủ là khát vọng của toàn nhân loại, nó mang giá trị chung của nhân loại. Nhưng trên con đường vươn tới khát vọng đó nó bị chi phối bởi các đảng chính trị và mang dấu ấn của điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Các con đường vươn tới dân chủ, do đó cũng khác nhau. Việc một đảng duy nhất ở Việt Nam hay nhiều đảng ở các nước khác trong thực thi dân chủ là lẽ bình thường, tùy thuộc vào mỗi nước. Chúng ta không kỳ thị, bài xích. Nhưng, chúng ta không dung thứ bất cứ sự rập khuôn, bắt chước hay sự áp đặt nào, vì như thế là thất bại. Chúng ta càng không chấp nhận việc lợi dụng cái gọi là dân chủ để làm rối loạn tình hình, làm méo mó hoặc thui chột quyền dân chủ của nhân dân, vi phạm độc lập chủ quyền và quyền tự quyết của mình và của bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Ấy cũng chính là dân chủ nhất. Làm trái thế, là vi phạm dân chủ, là phi dân chủ. Đó là quy luật.

Nên, thiển nghĩ, không phải chuyện cứ tưởng muốn nhiều dân chủ thì cần phải nhiều đảng một cách hình thức và ô hợp,Ấy cũng chính là dân chủ nhất rồi a dua, phụ họa, như cách hiểu, cách nghĩ và hành xử của một số người vĩ cuồng ở ta, suốt mấy năm qua và kéo tới tận hôm nay.

Tòa đàm đang diễn ra hết sức sôi nổi. Nhiều ý kiến quý báu đã được các khách mời chia sẻ trong bầu không khí cởi mở. (Ảnh: Sơn Hải)

9h30: Thưa nhà báo Hồ Quang Lợi, được biết nhân kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, ông chuẩn bị ra mắt bạn đọc một cuốn sách nói về nước Nga, trước hết, ông có thể chia sẻ đôi điều về cảm xúc của ông khi đến dự tọa đàm này. Sau đó đề nghị ông cho biết suy nghĩ của mình về Cách mạng Tháng Mười và con đường đi lên Chủ nghìa Xã hội?

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Khúc quanh lịch sử kịch tính nhất, đau đớn nhất từ sau Cách mạng Tháng Mười đến nay chính là sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu.  Trong vòng xoáy của các biến động, khi tâm lý xã hội bị đốt nóng, các nhà "ảo thuật chính trị" mặc sức tung hoành, thì như một hệ quả tất yếu, các giá trị đã bị biến dạng và đảo lộn. Việc duy trì quá lâu cơ chế quan liêu bao cấp đã làm phát sinh những căn bệnh nguy hiểm trong bộ máy lãnh đạo Đảng và chính quyền như: chuyên quyền, độc đoán, đặc quyền, đặc lợi, trì trệ, bảo thủ... Tình trạng này đã làm tích tụ nhiều mâu thuẫn từ không đối kháng thành đối kháng trong lòng các nước XHCN, làm xói mòn uy tín của Đảng cộng sản đối với quần chúng nhân dân, làm cho CNXH không thể hiện được tính ưu việt của mình. Thấy được nguy cơ đó, nhiều nước XHCN đã tiến hành cải tổ, cải cách. Nhưng trong quá trình này, một số nước đã tạo ra "những khoảng trống quyền lực" để cho một số thế lực chống CNXH đủ mọi màu sắc ngóc đầu dậy, tập hợp lực lượng tạo thành các loại âm binh, ra sức lôi kéo quần chúng nhân dân bằng những khẩu hiệu mị dân, làm tê liệt và vô hiệu hoá bộ máy quyền lực và các công cụ quan trọng của chuyên chính vô sản.

Sẽ là không thỏa đáng nếu giải thích nguyên nhân thoái trào cách mạng XHCN, sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu chỉ bằng cách nêu lên tính quanh co, phức tạp của các hình thái kinh tế-xã hội. Trong tổ hợp các nguyên nhân, sự trì trệ kém hiệu quả của nền kinh tế, tình trạng tập trung quan liêu, vốn là nhược điểm đã tích tụ thành khuyết tật tai hại của một mô hình CNXH dựa trên chế độ kế hoạch hoá tập trung cao phải được mổ xẻ, phân tích với một thái độ nghiêm túc nhất. Cải cách, cải tổ, thay đổi mô hình, sửa chữa khuyết tật là tất yếu. Nhưng bằng cải tổ, người ta đã đập tan ngôi nhà XHCN từ thượng tầng chính trị và tư tưởng đến hạ tầng cơ sở kinh tế. Cải tổ là tất yếu nhưng sụp đổ lại không phải là tất yếu nếu có đường lối đúng, không xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Đó là bài học lịch sử đắt giá nhất! Điều cực kỳ nguy hại là một bộ phận lãnh đạo chóp bu ở các nước này đã trượt vào con đường cơ hội và phản bội, liên tiếp phạm những sai lầm nghiêm trọng trong hoạch định và thực thi đường lối. Thay vì khắc phục những hạn chế để hoàn thiện hệ thống dân chủ XHCN, họ đã hoàn toàn đảo lộn nó bằng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thay vì đổi mới cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế theo định hướng XHCN, họ đã áp dụng các biện pháp cực đoan như liệu pháp sốc, tư nhân hoá và tư bản hoá, theo cách thức "đốt cháy"  khiến toàn bộ nền kinh tế ngày càng lún sâu hơn vào tình trạng suy sụp không lối thoát.

Hơn một thế kỷ trước, khi nói về Công xã Pari, Các Mác đã khẳng định cách mạng có thể bị thất bại, nhưng cách mạng không bao giờ bị tiêu diệt. Việc mất chính quyền dẫn tới sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trở thành bi kịch thời cuộc đau đớn nhất. Bước trầm này của lịch sử càng cho thấy lời dạy của V. I. Lênin từ ngày đầu cách mạng đến nay vẫn còn nóng hổi tính thời sự: giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều! Người cũng đã từng chỉ rõ: " Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ".

Trước sự thoái trào của phong trào cộng sản quốc tế, một số học gỉa tư sản đã vội khẳng định rằng Cách mạng Tháng Mười là "một bước nhầm của lịch sử". Họ coi CNXH là "một quái thai dị dạng", một cuộc cách mạng diễn ra "không theo đúng qui luật khách quan", "không theo đúng tiến trình phát triển lịch sử tự nhiên".

Cách mạng Tháng Mười đã chỉ rõ, để bảo vệ CNXH không chỉ dồn sức đánh bại các cuộc tấn công vũ trang của các lực lượng đế quốc thù địch từ bên ngoài mà còn biết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thẩm thấu hoà bình nham hiểm của chúng từ bên trong. Mặt khác, cách mạng tự bảo vệ không chỉ bằng những công cụ, biện pháp của chuyên chính vô sản mà cách tốt nhất là phải tăng cường sức mạnh nội sinh, luôn chủ động đổi mới một cách sáng tạo toàn diện cả trong tư duy lý luận lẫn hành động thực tiễn, tạo ra thế và lực đủ mạnh để tiến hành hiệu qủa công cuộc xây dựng CNXH.

Sự đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu cùng với sự thoái trào của phong trào cộng sản quốc tế đang gây ra những trở ngại, thử thách rất nặng nề đối với sự nghiệp cao cả của các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ, và CNXH. Nhưng tuyệt nhiên không thể vì thế mà cố tình phủ nhận ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười

27 năm đã trôi qua kể từ khi chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ, có một thực tế là một bộ phận không nhỏ người Nga vẫn không khỏi cảm thấy cay đắng, không nguôi nuối tiếc Liên Xô. Họ bày tỏ niềm tin vào CNXH, ký vào lời kêu gọi duy trì thi hài Lênin trong Lăng trên Quảng trường Đỏ. Việc đông đảo nhân dân Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây đã kỷ niệm một cách long trọng và đầy xúc động 72 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít vào ngày 9-5-2017mới đây, cùng với những nỗ lực củng cố, tăng cường lực lượng, đổi mới phương thức hoạt động của các đảng cộng sản và cách tả ở nhiều nước trên thế giới đã một lần nữa chứng minh hùng hồn rằng, cho dù lịch sử đã phải chịu những cú sốc thời cuộc đau đớn, nhưng những giá trị cao đẹp đích thực của nhân loại vẫn được trân trọng và lý tưởng cộng sản vẫn có sức sống mãnh liệt, vẫn là ánh sáng niềm tin trong một thế giới còn nhiều bất công. Hiện nay nhiều nước châu Âu đang cố gắng lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước thiên về xã hội. Rất đáng chú ý, tại khu vực Mỹ Latinh đã và đang hình thành một xu thế chính trị mới ở “vùng sân sau” của Mỹ- nơi có nhiều chính phủ cánh tả đang cầm quyền. Điều đó cho thấy nhân dân lao động tại nhiều nước trên thế giới vẫn đang đặt niềm tin mãnh liệt vào các lực lượng cộng sản, cánh tả trong cuộc chiến chống đói nghèo và bất công xã hội. Đặc biệt, hiện thực sống động và những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Trung Quốc... đang chứng tỏ sức sống bất diệt của lý tưởng cộng sản. Việc Đảng Cộng sản Trung Quốc- với 87,8 triệu đảng viên (tính đến cuối năm 2014) ở một đất nước 1,3 tỷ người- khẳng định tiếp tục con đường xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc là một minh chứng thuyết phục cho nhận định trên đây.

Nắm bắt được hơi thở của thời đại, Đảng ta đã sớm đề ra đường lối Đổi mới phù hợp với lợi ích tối cao của đất nước, của dân tộc. Chúng ta đã không tiến hành một cuộc thí nghiệm vĩ đại trên lưng nhân dân để tìm kiếm cơ may "lột xác" như ở đâu đó, hay như ai đó nói. Chế độ XHCN ở Việt Nam đã biết tự bảo vệ khi Đổi mới không còn là một khẩu hiệu chính trị khô khan mà đã trở thành cây đời xanh tươi ăn sâu bén rễ trong lòng người. Dù còn vất vả sớm tối lo toan, nhưng về cơ bản, các tầng lớp nhân dân lao động đã được hưởng những trái ngọt của đổi mới. CNXH cũng như công cuộc Đổi mới có sức sống, có khả năng vượt qua mọi thử thách cam go là vì vậy!

Càng ngày, tiếng thơm Việt Nam càng vang khắp hành tinh. Sau sự kiện nước ta đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới, việc Việt Nam được bầu làm uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ  với số phiếu ủng hộ rất cao (183/190), việc nước ta tham gia Hội đồng nhân quyền của LHQ, là thành viên tích cực, tiếng nói có trọng lượng tại nhiều tổ chức quốc tế lớn, tổ chức khu vực và liên khu vực… đã khẳng định vị thế mới của nước ta trên trường quốc tế. Vào tháng 11- 2017 này, Việt Nam sẽ là nước chủ nhà của Hội nghị cấp cao APEC với một chương trình nghị sự rất phong phú và thiết thực. Trong con mắt của thế giới là hình ảnh một đất nước Việt Nam thật sự khởi sắc thanh xuân trong thời Đổi mới, vững vàng đi lên khi thế nước mở ra trong cuộc hội nhập khu vực và toàn cầu. Việt Nam được đánh giá là đã thực hiện một cuộc chuyển đổi kinh tế thành công nhất trên thế giới. Trước đổi mới, cả nước phải lo chạy ăn từng bữa thì năm 2016 Việt Nam xuất khẩu gần 5 triệu tấn gạo, là một trong hai quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Những năm 80 của thế kỷ trước, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ khoảng 150 USD thì nay nước ta đã gia nhập nhóm nước có mức thu nhập trung bình với 2.215 USD/ người. Việc những chính khánh nổi tiếng cũng như những nhà kinh doanh sáng giá nhất trên thế giới hào hứng đến Việt Nam trong những năm qua càng làm sáng đẹp hơn hình ảnh một đất nước cởi mở, tự tin hội nhập, một đất nước với bề dày truyền thống lịch sử ngàn năm nhưng đang có một sức hút lạ kỳ trong thế giới hiện đại. Điều đó chứng tỏ niềm tin lớn lao của cộng đồng quốc tế vào thị trường Việt Nam, cũng như vào tương lai tươi sáng của đất nước Việt Nam.

Các nhà khoa học, các học gỉa từ khắp nơi trên thế giới đến dự các cuộc hội thảo ‘Việt Nam học” trong những năm gần đây đã nhất trí khẳng định rằng: Đổi mới của Việt Nam là một tiến trình cách mạng đầy tính sáng tạo. Đó là một đóng góp lớn lao không chỉ cho phong trào cộng sản quốc tế mà còn cho cả nhân loại. Giáo sư tiến sĩ A. Lilốp (Bungari) đã nói: "Ý nghĩa siêu quốc gia của cuộc đổi mới ở Việt Nam cần được nhận thức không chỉ như một sự đánh giá mà trước hết phải nhận thức như một tầm quan trọng lịch sử của công cuộc đổi mới này, trách nhiệm đối với thắng lợi cuối cùng của cuộc đổi mới ấy." Sau khi phân tích ý nghĩa siêu quốc gia của công cuộc đổi mới trên các bình diện lý luận, lịch sử, kinh tế, chính trị, giáo sư Lilốp đã nhấn mạnh ý nghĩa này trên bình diện địa chiến lược như sau: " Thắng lợi của công cuộc đổi mới ở Việt Nam sẽ phục hồi lại ở mức độ lớn ý nghĩa chiến lược của CNXH trong sự phát triển thế giới, sẽ mở ra những triển vọng khắc phục cuộc khủng hoảng đang vướng phải, và thúc đẩy việc hình thành một thế giới đa cực và một trật tự thế giới chính nghĩa hơn".

Cho dù chủ nghĩa xã hội đang gặp bước thoái trào, cho dù chủ nghĩa tư bản đã có những bước điều chỉnh để thích ứng với bối cảnh mới, nhưng thực tiễn còn nhiều nhức nhối của thế giới hiện đại càng cho thấy rõ hơn rằng chủ nghĩa tư bản không phải là liều thuốc vạn năng để chữa trị những căn bệnh của chủ nghĩa xã hội, không phải là con đường đi tới tương lai của xã hội loài người.

Hiện có không ít người ngộ nhận rằng, cuộc đấu tranh ý thức hệ không còn đáng kể nữa, thậm chí đã kết thúc sau khi đối đầu Đông -Tây chấm dứt.   Thực tiễn của đời sống quốc tế hơn một phần tư thế kỷ qua cho thấy mũi tiến công ý thức hệ trực diện nhất và khốc liệt nhất, không chỉ nhằm vào các nước XHCN đang tồn tại như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba… và những người đang hướng theo con đường XHCN mà còn nhằm triệt tiêu hoàn toàn tư tưởng XHCN, ngăn chặn khả năng phục hồi và vươn dậy của các lực lượng cộng sản tại các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây. Như vậy, cuộc tiến công này nhằm một mục tiêu tổng quát là loại bỏ, tiêu diệt hoàn toàn CNXH như một hình thái ý thức và như một hệ thống xã hội thế giới, bảo đảm sự toàn thắng “vĩnh viễn” của CNTB trong cuộc chiến ý thức hệ.

Đối với Việt Nam, bài học quý báu nhất sau 30 năm đổi mới  là bài học nhận biết đúng mình. Chưa bao giờ vấn đề hội nhập – tự chủ lại đặt ra nóng bỏng như hiện nay. Đã từng có những thế lực muốn biến Việt Nam thành ốc đảo nghèo đói và cô đơn trên đại dương thế giới. Giờ đây khi mưu đồ đó thất bại, họ lại muốn dùng chính làn sóng hội nhập để làm tiêu biến chúng ta. Chúng ta mong muốn hội nhập là làn nước mát, hội tụ mọi thiện chí, cơ hội tiềm năng hợp tác, làm bật dậy những sức mạnh mới. Nhưng một số thế lực bên ngoài vẫn chưa chấm dứt những cuộc chơi thiếu thiện chí và thù địch với Việt Nam.

Rõ ràng, trận chiến ý thức hệ vẫn đang diễn ra rất quyết liệt. Nó đòi hỏi các lực lượng tiến bộ và dân chủ, các phong trào xã hội và toàn thể nhân dân tiến bộ trên thế giới đoàn kết lại chống lại các nguy cơ chia rẽ và nêu cao trách nhiệm đối với việc bảo vệ các giá trị xã hội, dân chủ và nhân văn.

Trong dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, trên đất nước ta đã diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi và có ý nghĩa như hội thảo khoa học, toạ đàm, giao lưu, gặp gỡ, biễu diễn nghệ thuật… và đặc biệt là một đợt tuyên truyền sâu rộng trên báo chí và các phương tiện truyền thông. Nhận thức và tình cảm của người Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười, đối với Liên Xô trước đây và nước Nga ngày nay là vô cùng sâu sắc. Điều đó thể hiện sáng ngời bản lĩnh, ý chí, sự thuỷ chung son sắt của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với lý tưởng cao đẹp và giá trị lịch sử bất diệt của Cách mạng Tháng Mười. Đó mãi mãi là ánh sáng trên con đường đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam.

Cách mạng Tháng Mười không chỉ mang ý nghĩa của một cuộc cách mạng chính trị, mà còn là thành quả của nền văn minh nhân loại. Ngọn gió thời đại từ Cách mạng Tháng Mười, thổi dọc theo suốt chiều dài của thế kỷ 20 sang những năm đầu cuả thế kỷ 21 và mãi mãi, đã và đang mang theo khát vọng cháy bỏng của nhiều dân tộc trên thế giới về một thế giới hòa bình, hợp tác, bình đẳng, công bằng, phồn vinh và hạnh phúc.   

9h35: Câu chuyện về các kiến nghị đòi cải cách chính trị. Có thể nói: Đa đảng, hay một đảng, mỗi thể chế đều có những mặt ưu, mặt khuyết. Qua phân tích trên đây, chúng ta thấy vấn đề không phải ở đa đảng hay một đảng, mà vấn đề chúng ta có những sai lầm, thiếu sót, bệnh chủ quan, giáo điều đã làm cho mô hình CNXH ở nước ta có nhiều sai lệch, khuyết tật, bất cập. Có những việc nói ra nhưng không làm được, có nhiều mặt tiêu cực chúng ta càng chống càng phát triển. Nhiều vấn đề hại nhiều, lợi ít nhưng lại duy trì quá lâu, như cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp; cơ chế xin cho và bệnh dân chủ hình thức...Thưa TS Lương Ngọc Vĩnh, ông suy nghĩ như thế nào về những vấn đề này?

TS Lương Ngọc Vĩnh : Muốn làm cho dân yêu thể chế một đảng cầm quyền, chẳng có cách nào khác là phải làm cho đời sống vật chất, tinh thần của dân ngày càng tốt hơn và hình ảnh của Đảng phải đẹp hơn trong mắt nhân dân.

TS Lương Ngọc Vĩnh: Tôi đồng ý với quan điểm của MC, đúng là mỗi thể chế dù đa đảng hay một đảng đều có mặt tích cực và hạn chế của nó. Điều này không phải nói theo kiểu dung hòa, ba phải mà xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Còn lẽ thông thường, trên đời này chẳng có gì là hoàn hảo, tuyệt mĩ cả, được cái này lại mất cái khác thế thôi, vấn đề là anh lựa chọn thể chế nào. Vì vậy, theo tôi nghĩ các nhà lý luận, các chính khách nên bớt tranh cãi đi, bởi ai cũng có lý do của mình, cãi nhau liệu đến bao giờ mới thôi. Mặc cho các vị cứ tranh cãi, còn người dân họ có cái lý riêng của mình. Đối với nhân dân, thế chế nào mang lại cho họ cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn thì đó là tốt và ngược lại, đơn giản vậy thôi.

Trong kháng chiến, Đảng ta chiến đấu, hy sinh để mang lại cho người dân cuộc sống tốt đẹp hơn nên được dân yêu, dân tin, chấp nhận thể chế  một đảng cầm quyền. Nhưng khi nắm được quyền lực thì những mặt khiếm khuyết của thế chế này như MC vừa liệt kê mới bộc lộ ra và  ngày càng trầm trọng. Điều đó khiến lòng dân không vui và niềm tin yêu vào Đảng bắt đầu giảm sút.  Và chiều theo ý số đông, một số người hay chữ  mới nâng tầm lên thành lý luận về  khuyết tật của thể chế một đảng cầm quyền và  đưa ra các kiến nghị cải cách thể chế chính trị mà thực chất là tìm lý do để bác bỏ vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng ta.

Tôi biết họ cũng thừa hiểu thể chế nào mà chả có cái hay, cái dở nên chúng ta chẳng việc gì phải sợ các ý kiến này, thậm chí nên khuyến khích họ nói, càng rõ càng tốt để ta biết mà khắc phục những khuyết tật cố hữu của nó để mình ngày càng tốt hơn. Cái đáng sợ hơn là niềm tin yêu của dân vào Đảng đang giảm sút vì mặt tốt thì ngày càng ít mà mặt xấu thì ngày càng nhiều.  Đó mới là vấn đề đáng báo động, là nguy cơ đe dọa đền sự tồn vong của Đảng và chế độ, bởi đẩy thuyền cũng là dân và lật thuyền cũng là dân. Muốn làm cho dân yêu thể chế một đảng cầm quyền, chẳng có cách nào khác là phải làm cho đời sống vật chất, tinh thần của dân ngày càng tốt hơn và hình ảnh của Đảng phải đẹp hơn trong mắt nhân dân.

Tôi nghĩ Đảng ta đã biết rất rõ điều này bởi nó đã được khẳng định trong nghị quyết ĐH XII và cụ thể hơn ở NQTW IV khóa XII vừa rồi. Quan trọng là chúng ta có đủ quyết tâm chính trị để phát huy ưu điểm và kiềm chế, khắc phục những hạn chế bất cập của thể chế một đảng cầm quyền ở đất nước chúng ta hay không mà thôi.

9h40: Có một vấn đề lớn về tư tưởng chính trị đặt ra là, không những người cổ súy cho chủ nghĩa đa nguyên lợi dụng những khó khăn thách thức mà Đảng ta đang phải đối mặt để kiến nghị cải cách chính trị, thay đổi Hiến pháp mà trong Đảng có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên cùng với sự suy thoái “tự diễn biến”, tự chuyển hóa” mà tập trung là có 9 biểu hiện như trong Nghị quyết TƯ 4 khóa XII đã nêu. Xin hỏi TS Trần Bá Dung, ông cho biết suy nghĩ của mình về cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, tự chuyển hóa” trên diễn đàn báo chí, truyền thông thời gian qua? Niềm tin của ông về cuộc đấu tranh này?

Nhiều cơ quan báo chí đã mở ngay chuyên mục, chuyên trang… thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa XII về đấu tranh chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa”  - TS Trần Bá Dung

TS Trần Bá Dung: Có thể nói, báo chí luôn đi đầu trong tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Với Nghị quyết TW 4 khóa XII cũng vậy. Cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” theo nội dung Nghị quyết TW 4 khóa XII, được thể hiện kịp thời trên diễn đàn báo chí- truyền thông đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của Đảng, đúng tinh thần Nghị quyết, đúng đối tượng tuyên truyền, theo phương thức tuyên truyền phù hợp với từng loại hình báo chí, từng cơ quan báo chí.

Nhiều cơ quan báo chí đã mở ngay chuyên mục, chuyên trang… thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa XII về đấu tranh chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Có nhiều hình thức thể hiện tùy từng loại hình báo chí:  Những cuộc tọa đàm, giao lưu, đối thoại trên các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình; những cuộc phỏng vấn, những bài viết mang tính xã luận, bình luận, phân tích sâu… trên báo in, báo điện tử. Đặc biệt, một số cơ quan báo, đài lớn đã có những loạt bài bình luận, chuyên luận sắc sảo, những giao lưu, đối thoại có tầm, có tính phản biện cao, phân tích sâu về những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, như báo Nhân Dân, báo Quân đội nhân dân, báo Công an nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tuyên giáo, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, v.v…

Tôi cho rằng nhiều cơ quan báo chí- nhất là các cơ quan báo chí ở Trung ương- đã vào cuộc với tinh thần nghiêm túc, có trách nhiệm và đúng tầm của vấn đề. Nhiều tác phẩm có ý nghĩa xã hội tốt, phân tích thực trạng một cách sâu sắc, thuyết phục, lập luận sắc bén, thức tỉnh những nhận thức chưa đúng đắn, phê phán những lệch lạc, sai lầm, giáo dục niềm tin cho công chúng nhân dân.

Nhiều tác phẩm báo chí về chủ đề này có sức lan tỏa, có tiếng vang trong dư luận và trong báo giới, như: tác phẩm Phòng chống nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong Đảng- vấn đề sống còn của Đảng ta và chế độ ta (Báo Quân đội Nhân dân); tập trung phân tích sâu luận điểm của Lê nin “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”.

Nhiều tác phẩm phản ánh những bất thường- lợi ích nhóm trong công tác cán bộ, trong công tác quản lý kinh tế- những hệ lụy của sự suy thoái, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”; trong đó có những tác phẩm phân tích sâu sắc như “Chuyện như đùa ở Hải Dương”, Những con nợ của nền kinh tế (Báo Nhân Dân).

Hoặc những tác phẩm “Hai lão nông giúp phanh phui 2.745 hồ sơ thương binh giả” (Báo Nông thôn Ngày nay); “Vì sao ông Đinh La Thăng bị cảnh cáo, thôi Ủy viên Bộ Chính trị” (Báo Tuổi trẻ); “Từ vụ VN Pharma: “Lộ” lỗ hổng cấp phép nhập khẩu thuốc” (Báo Lao Động); “Có tình trạng bảo kê cho xe quá tải” (Truyền hình Thông tấn xã Việt Nam);

Nhiều tác phẩm phản ánh tình trạng làm thất thoát và chiếm đoạt tài nguyên- khoáng sản của quốc gia, trong đó có những tác phẩm có tiếng vang, như phóng sự  “Tình trạng chặt phá rừng ở Tĩnh Gia- Thanh Hóa” (VTV24), Phóng sự “Khai thác đá đỏ trái phép ở Yên Bái: Lợi nhuận khổng lồ vào túi ai?” (Truyền hình VTC)- phản ánh tình trạng chính quyền địa phương thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý và không loại trừ hiện tượng “bảo kê”, móc ngoặc, bao che cho các đối tượng làm trái phép.

Cá nhân tôi, tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng, chống những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”… được cán bộ, đảng viên, được đông đảo nhân dân hưởng ứng và thực hiện. Bởi vì nó cho thấy sự cầu thị của Đảng trước nhân dân trước những suy thoái về tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên- nguyên nhân làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng. Một khi Đảng đã tự “sửa mình” một cách nghiêm túc và cầu thị, chắc chắn lấy lại được lòng tin của nhân dân và cuộc đấu tranh tư tưởng này sẽ thành công, dù còn nhiều khó khăn, trở ngại.

Như vậy, sự khủng hoảng về niềm tin của nhân dân không phải là thiếu tin về con đường chúng ta đã chọn, về cương lĩnh, đường lối mà đảng ta đã đề ra.Mà khủng hoảng ở đây là nhận diện sự suy thoái,sự tha hoá của hệ thống chính trị đã ở mức độ quá nghiêm trọng,khả năng không vượt qua nếu chúng ta không có sự đổi mới mạnh mẽ, công tác lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện vẫn như lâu nay. Kết quả chống tham nhũng gần đây là những thắng lợi rất quan trọng, tuy nhiên để ngăn chặn đẩy lùi được tham nhũng vẫn vô cùng khó khăn. Đa phần người dân hiện nay cho rằng tham nhũng tràn lan, lợi ích nhóm ngày càng bền chặt, vậy ai sẽ tham gia tích cực chống tham nhũng. Nói nhiều,hô hào nhiều,nhưng chỉ đạt kết quả ở những đại án mà Trung ương tập trung chỉ đạo,còn lại vẫn là tảng băng chìm,không thể kiểm soát. Trên diễn đàn báo chí, truyên thông gần đây có rất nhiều tác phẩm lên án mạnh mẽ tham nhũng, lảng phí, tiêu cực. Nhiều bài báo, chương trình phát thanh truyền hình đi sâu phân tích thực trạng, hệ luỵ, nguyên nhân của quốc nạn tham nhũng lảng phí, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội,chạy dự án,chạy danh hiệu...và kiến nghị các giải pháp chống " chạy" nhằm chống giặc "nội xâm" bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ...mà TS Trần Bá Dung vừa nêu.

          Đặc biệt có một loạt bài 8 kỳ đăng trên Tạp chí điện tử Người làm báo, được nhiều báo điện tử đăng lại có tên gọi: Chống được "chạy" sẽ thành công, được đông đảo bạn đọc đón nhận, đánh giá cao. Nội dung loạt bài đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có nhận định: "Chạy" là hiện tượng phổ biến, là nét đặc trưng biến thái trong quan hệ xã hội đương thời ơ nước ta. "Chạy" làm rối loạn kỷ cương, xói mòn đạo lý, lẫn trắng đen lòng người.

 “Chạy”ở Việt Nam ta đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng, nguy hại đến lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc. “Chạy” đang hiện hữu trong trường đua giành lấy quyền lực, sự giàu sang của mỗi cá nhân. Người càng có điều kiện thì kết quả “chạy” càng cao. “Chạy” ở đây đồng nghĩa với sự phá hoại các giá trị tốt đẹp, các nguyên tắc tiến bộ, các thành quả do quá trình biến đổi cách mạng tạo ra. "Chạy" đồng hành với lối sống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, ích kỷ, thấp hèn, tuỳ tiện...“Chạy” đang như là một phương thức mua bán sinh lời của ba yếu tố: Quyền - Tiền - Tình. Từ không có quyền, “chạy” để có quyền. Từ có quyền ít “chạy” để có quyền nhiều. Từ chưa có tiền “chạy” để có tiền. Từ có tiền ít “chạy” để có tiền nhiều. Khi có quyền sẽ đẻ ra tiền và khi có tiền sẽ chuyển hóa thành quyền. Theo đó, tình cảm cũng quyện chặt sâu thêm theo quyền và tiền. Quyền, tiền và tình cảm cứ hoán vị, đảo chiều, đổi ngôi, chuyển hóa lẫn nhau, nó thu hút, chi phối ý chí và hành vi của con người vào vòng xoáy của những thang bậc danh và lợi.

10h00: Thưa TS Lương Ngọc Vĩnh, như loạt bài báo nói trên nhận định thì vấn nạn “chạy” là vấn đề nóng bỏng lâu nay. Trong lúc này, cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang ở giai đoạn quyết liệt, phong trào đang lên thì “chạy” vẫn diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, việc chống tham nhũng là vô cùng khó khăn. Ông suy nghĩ gì về cuộc chiến này để chống “giặc nội xâm” có hiệu quả và đi đến thành công.

TS Lương Ngọc Vĩnh: Tôi nghĩ vấn nạn “chạy” vẫn còn hoành hành vì nó còn có cửa để mà chạy, cửa trước đóng thì người ta chạy cửa sau, cửa đóng ban ngày thì người ta chạy cửa ban đêm. Lò cháy rồi nhưng sức nóng của nó làm sao có thể sưởi ấm đến tận hang cùng ngõ hẻm. ChỈ khi nào ta bịt hết cửa và người được “chạy” không tiếp tay thì vấn nạn “chạy” thì lúc đó mới hết đất sống.

Tất nhiên chống “chạy” với chống tham nhũng là hai vấn đề rộng hẹp khác nhau. Nếu nói về triển vọng cuộc chiến chống “giặc nội xâm” thì theo tôi, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải xác định phương châm:  trường kỳ kháng chiến; phải đánh kiên trì, liên tục từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác thì mới thành công. Bởi chúng ta để tình trạng này quá lâu, quá mù ra mưa rồi, đến nỗi cái xấu, cái ác lớn mạnh hơn cả cái tốt, cái tích cực. Tư duy như vậy thì chống tham nhũng mới không nôn nóng, bốc đồng, cực đoan, chạy theo phong trào. Ngược lại, phải có mục tiêu, lộ trình, chiến thuật, kế hoạch từng bước rõ ràng và  quan trọng là phải xây dựng được lực lượng phò chính diệt tà  ngày càng lớn mạnh. Bởi lẽ chiến tranh chống “giặc nội xâm” cũng tuân theo quy luật nghiệt ngã là mạnh được yếu thua, chẳng có ngoại lệ nào khác. Muốn đánh thắng trong cuộc chiến này, theo tôi phải có 4 yếu tố:

- Thứ nhất, Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, dám đánh, quyết đánh (còn cái lai quần cũng đánh) và quyết thắng, chứ đánh chuột lại sợ vỡ bình thì không thể nào thắng được.

- Thứ hai, phải có lực lượng chống tham nhũng đông và mạnh, đội ngũ những người chính trực phải đông hơn kẻ nhúng chàm. Tôi tạm chia Đảng ta hiện nay làm 4 phần, người tâm huyết, chính trực chỉ chiếm ¼, bộ phận không nhỏ suy thoái chiếm  ¼, còn lại ½  vì cuộc sống nên đang bị cuốn vào vòng xoáy để tìm cơ hội sinh tồn. Nếu ta chống tham nhũng mạnh, số người này sẽ ngả sang phía chúng ta thì lực lượng chính nghĩa sẽ đông hơn. Nếu Đảng mạnh dạn  xin lỗi nhân dân, hứa với nhân dân quyết tâm đánh tham nhũng để dân giám sát thực hiện thì dân sẽ  hăng hái ủng hộ và đi theo. Làm được như vậy lực lượng chính nghĩa sẽ mạnh lên gấp bội phần và như thế mới có thể giành chiến thắng.

Thứ ba, người chỉ huy trong cuộc chiến chống giặc nội xâm đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Đảng phải tìm ra những người vừa có tài, vừa có đức để chỉ huy cuộc chiến này thì mới có thể thành công. Tài thì tất nhiên rất cần, nhưng đặc thù cuộc chiến này rất cần cái đức. Sự chính trực, liêm khiết của người chỉ huy chính là hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết mọi lực lượng tham gia chiến đấu chống kẻ thù chung là tham nhũng.

Thứ tư, một yếu tố hết sức quan trọng  là vũ khí chống “giặc nội xâm” vừa phải có  độ chính xác cao, hỏa lực mạnh, tầm bắn xa, phù hợp thời đại 4.0. Trong cuộc chiến này, vũ khí hữu hiệu nhất đó là luật pháp. Luật pháp chống tham nhũng phải đầy đủ, bịt hết mọi kẽ hở thì mới hết chỗ cho tham nhũng và quan trọng là phải thực thi hết sức nghiêm minh. Một vũ khí không kém phần sắc bén đó chính là truyền thông. Truyền thông phải góp phần đưa ra ánh sáng, công khai, minh bạch hóa thông tin để hạn chế bóng tối nơi dung dưỡng cho tham nhũng, tiêu cực hoành hành.

10h07: Thưa TS Trần Bá Dung, được biết ông là người giữ vai trò chính trong xây dựng nội dung và biên tập cuốn kỷ yếu của cuộc hội thảo: Báo chí với cuộc đấu tranh phòng chống Tham nhũng, lãng phí do Ban thường trực Uỷ ban MTTQVN phối hợp Hội Nhà báo Việt nam và Báo Nhân dân tổ chức cuối tháng 4/2017. Xin hỏi Ông vấn nạn “chạy” trong lĩnh vực truyền thông báo chí đã và đang diễn ra như thế nào? Ảnh hưởng tác hại của nó ra sao?

TS Trần Bá Dung:

+ Nhận xét loạt bài báo:

Tôi cho rằng loạt bài về Chống được "chạy" sẽ thành công là sự khái quát khá tiêu biểu các biểu hiện của tệ nạn “chạy”, khái quát các nguyên nhân, mục đích và động cơ chạy, nêu được tác hại của tệ nạn này. Và đây là những tiếng nói thẳng thắn, khách quan và có trách nhiệm của tác giả.

+ Liên hệ “chạy” trong lĩnh vực báo chí

Tôi đồng ý với những nhận định của loạt bài chạy, khi cho rằng: "Chạy" làm rối loạn kỷ cương, xói mòn đạo lý, lẫn trắng đen lòng người,…trở thành một vấn nạn nghiêm trọng, nguy hại đến lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc. “Chạy” ở đây đồng nghĩa với sự phá hoại các giá trị tốt đẹp, các nguyên tắc tiến bộ,… đồng hành với lối sống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng,ích kỷ,thấp hèn,tuỳ tiện...”.

Soi chiếu trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, có những biểu hiện “Chạy” không?

Xét theo ba yếu tố - ba mục đích của chạy là Quyền - Tiền – Tình, thì trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, rõ ràng có những biểu hiện của “Chạy”.

Chạy để có quyền, có chức trong lĩnh vực báo chí (tức là chạy để được làm sếp trong các cơ quan báo chí), chưa có thống kê, chưa có bằng chứng nào… Nhưng lĩnh vực báo chí là xã hội thu nhỏ, khó có thể nói là không có chạy chức, chạy quyền ở đây!

Tuy nhiên, chạy và chấp nhận việc chạy hoặc đồng lõa, tham gia tiếp tay cho tệ nạn chạy vì động cơ Tiền hoặc giá trị vật chất khác… thì khá rõ.

Thứ nhất, đó là hiện tượng báo chí bị sự chi phối của đồng tiền mà cố tình viết bài sai sự thật, hoặc cố tình im lặng, không lên tiếng trước sự thật đáng phải lên tiếng mà mình đã biết, thậm chí đã viết nhưng chỉ viết để mặc cả cho sự im lặng, lờ đi, chứ không phải để đăng, phát…

Thứ hai, gần đây, trong lĩnh vực báo điện tử xuất hiện tình trạng được nhiều người quan tâm với thái độ nghi ngờ, đó là “sáng đăng – trưa gặp - chiều gỡ”. Trừ một số trường hợp chính đáng, do báo tự thấy sai sót hoặc lí do chính đáng khác, thì đây là một biểu hiện lộ liễu của chạy trong lĩnh vực báo chí. “Trưa gặp” chính là chạy và chấp nhận chạy, là tiền, là quyền, là lợi… “Chiều gỡ” có thể là kết quả của sự mặc cả. Nhưng điều quan trọng “gỡ bài” là có vấn đề, là làm sai lệch sự thật, làm che giấu sự thật, là làm ngơ trước cái xấu, cái tiêu cực đã được phanh phui, được “đăng”, mà lẽ ra phải tiếp tục được công khai…là tiếp tay, gián tiếp ủng hộ cái xấu, cái tiêu cực. Hơn nữa, việc “gỡ”, tức hậu quả của việc báo chí chấp nhận những kẻ “chạy”, có thể tổn thương, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng của những người đã cung cấp thông tin cho nhà báo để đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Việc chấp nhận chạy này đã đi ngược lại các giá trị truyền thống của báo chí là đấu tranh không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác. Nó cũng tạo ra bất công giữa các nhà báo, giữa các cơ quan báo chí. Và trên hết, hậu quả lớn hơn nữa là làm giảm lòng tin của nhân dân, của công chúng đối với báo chí.

10h15: Thưa ông, Nguyễn Danh Giáp, được biết Ông là một cán bộ quân đội nghỉ hưu ở một vùng quê tại Hà Nội. Ông là người đọc báo, nghe đài, xem truyền hình nhiều. Thông qua truyền thông báo chí, Ông nhận diện được những vấn đề nóng có tác động xấu mà Đảng ta đang tập trung trí tuệ, công sức đấu tranh. Ông có thể cho biết người dân đánh giá vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranh chống suy thoái, tham nhũng, tự chuyển hóa? Ông có thể nêu ra một số bài báo mà Ông cho là thiết thực nhất?

Những năm qua, thực hiện nghị quyết T/Ư 4 khóa XII "Phát huy vai trò của báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến" trong cán bộ, đảng viên", các loại hình báo chí, nhất là báo điện tử đã thực sự trở thành lực lượng tiên phong, chủ lực trong thực hiện chức năng giám và phản biện xã hội, đặc biệt là trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái," tự diễn biến " trong cán bộ, đảng viên. Với ưu thế của loại hình báo chí này, các bài viết không chỉ đơn thuần thông tin về các hiện tượng, các biểu hiện của vấn nạn suy thoái tham nhũng mà đã đi sâu phân tích, lý giải sắc bén, làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan cũng như bản chất, tác hại khôn lường của vấn nạn tham nhũng với những biểu hiện muôn màu, đủ loại tinh vi và trắng trợn của nó. Đồng thời chỉ ra những giải pháp mang tính căn cơ và đồng bộ giúp cho Đảng, Nhà Nước khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong hoạch định chính sách; trong cơ chế quản lý, điều hành; trong kiểm tra, thanh tra công vụ; trong rèn luyện, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ....

Ông Nguyễn Danh Giáp, cán bộ hưu trí  bày tỏ sự vui mừng về loạt bài viết chống tham nhũng, tiêu cực được đông đảo bạn đọc hoan nghênh trong thời gian qua.
 Đông đảo bạn đọc có thể nhận biết và đồng tình với những đánh giá đó qua rất nhiều bài như bài : Giải A giải báo chí toàn quốc 2016 của nhóm phóng viên báo QĐND, bài" chống thất thoát tài chính, tài sản công" của báo Nhân Dân (8/2017) và gần đây loạt bài " chống "chạy" được sẽ thành công" góp phần chống "giặc nội xâm" được đăng trên nhiều báo điện tử. Trong loạt bài này đã nêu nhiều vấn đề mà thông qua đây người dân nhận diện được mức độ nghiêm trọng của suy thoái, tham nhũng, lợi ích nhóm. Số 41 của Báo Công luận, ở trang 12 Tôi vừa đọc bài “Nguy hại của chạy” trong bài báo có đoạn “Chạy” gây tốn kém lãng phí bao thời gian, công sức của người “chạy” và người được “chạy” (thời gian chuẩn bị vật chất, chuẩn bị nội dung, thời gian hẹn, xếp lịch, thời gian tiếp xúc, gặp gỡ, đi lại,…). Trên thực tế có nhiều thủ trưởng cơ quan, đơn vị, giám đốc doanh nghiệp, thời gian phục vụ cho việc “chạy” còn nhiều hơn thời gian xử lý công việc theo chức trách nhiệm được giao. Tiêu tốn thời gian, công sức, tiền bạc vào việc “chạy”, lợi ích cá nhân, lợi ích của một tập thể có thể được tăng lên bởi sự xin cho, “mua bán” nhưng xã hội thì hệ lụy vô cùng lớn.

“Chạy” có thể thay đổi các qui định của pháp luật. Không ít bộ nọ, ngành kia, muốn có quyền, có lợi, họ có thể trình ra để đưa vào luật, nghị định những nội dung theo ý muốn, thậm chí có trường hợp đề xuất ra những điều thiếu thực tế, bất hợp lý. “Chạy” có thể biến những người có tội thành không có tội, nhiều tội thành ít tội, công ít thành công nhiều, không có công thành có công. “Chạy” có thể để buôn lậu, để gian lận thương mại, để không phải nộp thuế. “Chạy” để bỏ qua các khâu thẩm định, phớt lờ ý kiến các nhà khoa học để triển khai những đại dự án mà hậu quả khi mới vận hành đã làm cho môi trường một vùng biển rộng lớn bị ô nhiễm nặng, làm cho cuộc sống hàng vạn hộ gia đình thiếu ổn định như vụ xả thải của Formosa. “Chạy” có thể phá rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, phá nát sự giàu có và thân thiện của thiên nhiên ban tặng cho con người. “Chạy” có thể biến các vị trí chiến lược, quỹ đất dành cho các công trình quan trọng của quốc gia thành nơi thực hiện dự án du lịch, nhà nghỉ dưỡng cao cấp, nhà hàng, khách sạn, sân golf. “Chạy” có thể biến công viên, trường học, công trình giao thông,…nằm trong các bản qui hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thành những tòa nhà cao chọc trời, bỏ phí bao công sức của các tổ chức tư vấn chuyên ngành và gây nhiều hệ lụy cho xã hội. “Chạy” có thể biến tài nguyên của đất nước thành của “nhóm lợi ích”…

Do “chạy” nên nhiều Nghị quyết của đảng,văn bản pháp luật của nhà nước,ý chí của giai cấp lãnh đạo không trở thành hiện thực. Vì thế mà xã hội bị phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, quyền lực bị tha hóa ngày càng nghiêm trọng, kỷ cương bị rối loạn, đạo đức, đạo lý bị xói mòn, nhân dân giảm sút nghiêm trọng niềm tin vào thể chế chính trị, tinh thần tư tưởng của một bộ phận quần chúng đang bị lung lạc, các thế lực thù địch đang tìm cách lợi dụng xuyên tạc chống phá. Cuộc chiến chống suy thoái, tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đang gặp quá nhiều trở ngại, khó khăn.

      Có thể thấy “chạy” trở thành cầu nối tiếp sức cho sự tha hóa quyền lực, tiếp sức cho cái xấu, cái ác trong xã hội ta. “Chạy” đã làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh, số lượng người hưởng lương trong bộ máy quá lớn, lương thấp không đủ sống, phải “chạy”. Chất lượng cán bộ, công chức, ngày càng sa sút, thực hiện chức năng, nhiệm vụ kém hiệu quả; và do đó bản chất tốt đẹp của Nhà nước bị lu mờ. “Chạy” đã tiếp sức cho nạn tham nhũng, nhất là tham nhũng quyền lực. “Chạy” đã góp phần tăng lạm phát về kinh tế, nhà nước phải gánh một khối nợ công khổng lồ trên 2,5 triệu tỷ. Nguy hiểm nhất là, tâm lý “chạy”, thói quen “chạy”, thái độ khuyến khích “chạy” đang hiển nhiên trong đời sống xã hội; đang là thứ dịch bệnh lây truyền làm thay đổi các giá trị truyền thống, gây bất ổn xã hội. Các phương thuốc chống “chạy” đã được Đảng ta kê ra trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII là liệu trình đặc hiệu nhưng thứ bệnh nan y này vẫn đang thẩm thấu, công phá.

Trong bài báo cũng nêu nhiều "câu chuyện về chạy" trong đó có chuyện: không làm mà có ăn, cống hiến và hưởng thụ không tương xứng... là phổ biến ở khắp các ngành, địa phương...nhiều nơi làm sai lệch mục đích của chính sách, nhất là chính sách đối với người có công. Lâu nay, nhiều người cứ nghĩ việc hưởng thụ chính sách không đúng quy định chỉ là hiện tượng cá biệt, nhưng qua vụ việc hai lão nông phanh phui ra 2.745 hồ sơ thương binh giả...ở một tỉnh còn cả nước sẽ là bao nhiêu trường hợp không phải là thương binh? và ngược lại còn bao nhiêu trường hợp hy sinh cống hiến xương máu cho tổ quốc vẫn còn đang chưa được giải  quyết chế độ. Đây là sự bất công xã hội, không cống hiến mà được hưởng chế độ, không hy sinh mà được tôn vinh, tri ân...

Địa phương tôi cũng không nằm ngoài “tính phổ quát” của vấn nạn mà bài báo đã nêu trên từ việc nhỏ khai tăng tuổi để sớm được hưởng phụ cấp người cao tuổi đến việc chạy để hưởng chính sách chất độc da cam, có trường hợp trong chiến tranh thì đảo ngũ rồi nghiễm nhiên được hưởng chính sách thương binh đã gây bất bình trong dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đảo ngũ không hoàn thành nhiệm vụ, không có cống hiến mà lại trở thành thương binh được tôn vinh, được "đền ơn ,đáp nghĩa" là điều " trái với luân thường đạo lý". Họ được hưởng nhiều quyền lợi từ việc cấp đất được ưu tiên, con cái học hành được ưu tiên, ốm đau đi viên được ưu tiên, ngày tết, ngày kỷ niệm thương binh liệt sỹ được thăm hỏi tặng quà.. Đó không còn thuần túy chỉ là sự bất công về hưởng thụ vật chất, mà sâu xa hơn nó đã xúc phạm đến tình cảm, lòng biết ơn, kính trọng của nhân dân với những người đã hy sinh cống hiến vì tổ quốc. Đây là niềm băn khoăn, day dứt của quần chúng nhân dân đối với vấn nạn tham nhũng, nếu để cho thứ "văn hóa dối trá, gian lận" này tồn tại kéo dài thì hệ quả tất yếu của nó sẽ phá vỡ niềm tin, phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng, thực sự là nguy cơ đối với sự tồn vong của đảng, của chế độ như tinh thần đồng chí tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi kết luận hội nghị T/Ư 6 vừa qua một lần nữa nhấn mạnh: để mất lòng tin của dân là mất tất cả.

 Là cán bộ nghỉ hưu ở nông thôn, được tiếp xúc, lắng nghe tâm tư ,nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân địa phương, tôi nhận thấy cuộc đấu tranh phòng chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí"tự diễn biến, tự chuyển hóa" trên báo chí đã được nhân dân hết sức quan tâm, bởi lẽ :

- Trước hết nó phản ánh đúng những bức xúc đang bị dồn nén do nạn tham nhũng gây ra nên quần chúng đón nhận thông tin đó với tâm trạng phấn khởi vui mừng ( giải tỏa được tâm trạng chính trị)

- Những bài báo có tầm trí tuệ, công tâm, dũng cảm đã chỉ ra được nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi của những hành vi suy thoái, tham nhũng, nhất là những biểu hiện suy thoái, tham nhũng nghiêm trọng liên quan đến vận mệnh sống còn của Đảng, của cách mạng đã thực sự có sức lay động, khơi dậy tính tích cực chính trị trong đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đã "tiếp lửa" và thực sự là chỗ dựa cho quần chúng trong cuộc đấu tranh chống "giặc nội xâm", củng cố thêm niềm tin của mỗi người vào Đảng, vào chế độ và con đường đi lên CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng ,dân chủ, văn minh.

- Một điều rất có ý nghĩa nữa đó là nó giúp cho mỗi người từ quần chúng đến cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức, có quyền tự soi vào bản thân mình, chi bộ đảng bộ mình,địa phương, đơn vị mình mà tự tu dưỡng và chủ động đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện suy thoái tham nhũng, lãng phí, đi ngược lại mục tiêu lý tưởng của Đảng, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân .

 Có thể nói chống tham nhũng trên báo chí trở thành trung tâm của cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống," tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên, đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng vào cách mạng. Đó chính là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước đi lên CNXH ở nước ta hiện nay.

10h22: Thưa Nhà báo Nguyễn Hoà Văn, được biết ông là tác giả của loạt bài báo “Chống được “chạy” sẽ thành công” mà các vị vừa nêu, đề nghị ông nói rõ nguyên nhân của vấn nạn "chạy".

Đại tá Nhà báo Nguyễn Hòa Văn, Giám đốc Cổng Thông tin Điện tử- Hội Nhà báo Việt Nam:

 Vấn nạn “chạy” phát triển mạnh là do công tác cán bộ. -  Đại tá Nhà báo Nguyễn Hòa Văn, Giám đốc Cổng Thông tin Điện tử- Hội Nhà báo Việt Nam (Ảnh: Sơn Hải)

Nguyên nhân của vấn nạn “chạy”

Để vấn nạn “chạy” diễn ra ngày càng nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân. Có nhiều nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Trong đó nguyên nhân chủ quan là chính. Ở đây xin được đề cập đến hai nguyên nhân chủ quan, đó là công tác quản trị quốc gia có nhiều sơ hở yếu kém, trong đó có cơ chế xin cho tồn tại quá lâu và công tác cán bộ có nhiều tiêu cực.

Yếu kém sơ hở trong quản trị quốc gia

Quản trị quốc gia ở đây muốn nói đến là khi chúng ta chuyển đổi từ một chế độ tập quyền sang chế độ pháp quyền thì cốt lõi của quản trị quốc gia là xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, nhất quán và có tính ổn định. Hệ thống pháp luật này phải thế chế hóa được đường lối của Đảng, vì mục đích chung, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, không bảo vệ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm. Xóa bỏ cơ chế xin cho và thực trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” và “quyền rơm vạ đá”. Thể hiện rõ ràng minh bạch thẩm quyền và trách nhiệm của tổ chức cá nhân theo tinh thần xây dựng chính phủ liêm chính kiến tạo và phục vụ. Mặt khác các quy định của pháp luật phải bảo đảm sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát được quyền lực. Tạo điều kiện khuyến khích người tài, người tâm huyết, phấn đấu cống hiến, buộc người xấu làm những việc tốt, hoặc không giám làm việc xấu…Đồng thời các quy phạm pháp luật nói trên phải được thực thi trên thực tế.

Ba mươi năm đổi mới, mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng chúng ta chưa tạo được bước tiến bền vững của quá trình đi lên. Bức tranh tổng thể về kinh tế xã hội của nước ta còn nhiều ảm đạm. Nợ công quá lớn. Tham nhũng tràn lan. Số lượng doanh nghiệp thua lỗ, đổ bể nhiều. Tài nguyên bị khai thác cạn kiệt. Môi trường bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng. Đất đai bị xẻ thịt, bị băm nát nhiều nơi. Bệnh viện không đủ giường. Trường học không đủ phòng. Khắp cả nước có hàng tram, hàng ngàn dự án treo, công trình bị bỏ hoang. Người giàu ở nước ta phần nhiều nhờ vào kinh doanh bất động sản, khai thác tài nguyên, khác với người giàu ở các nước tư bản, họ nhờ vào tài sản thừa kế và sản xuất kinh doanh các ngành nghề mang hàm lượng chất xám cao.

Tất cả những đường nét, những gam màu trong bức tranh toàn cảnh còn nhiều mảng tối về đời sống xã hội ở nước ta hiện tại như kể ra ở trên, chỉ ra cho chúng ta thấy công tác quản trị quốc gia còn nhiều sơ hở yếu kém chúng ta cần phải nhanh chóng sửa “lỗi hệ thống”, đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành quản trị đất nước.

Chế độ tư bản về bản chất không ưu việt bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng tại sao, nhiều người ở nước ta đi du học, du lịch, công vụ, thăm thân đến các nước tư bản, được “mục sở thị” đời sống xã hội ở đây, đều thiện chí và nhận xét tốt về họ, có những người còn ca ngợi họ hết lời. Trong nhiều nguyên nhân để các nước phương Tây có được sự phát triển tiến bộ, văn minh, có nguyên nhân rất quan trọng đó là Công tác quản trị quốc gia và sự vận hành nền hành chính công ở các nước tư bản tốt hơn chúng ta rất nhiều. Sự yếu kém trong quản trị quốc gia, mà ta thường nói là “lỗi hệ thống” “lỗi thể chế”. Bộc lộ rõ nét là pháp luật không được qui định chặt chẽ, còn nhiều sơ hở, mâu thuẫn, bất cập và nhiều quy phạm pháp luật không được thực thi trên thực tế. Đây chính là nguồn gốc nguyên nhân của vấn nạn “chạy” ngày càng trầm trọng.

Sai từ công tác cán bộ

Vấn nạn “chạy” phát triển mạnh là do công tác cán bộ. Công tác cán bộ trước đây, dường như các quan điểm, nguyên tắc, phương pháp, quy trình thủ tục,…về công tác cán bộ, được Đảng ta định ra như thế nào thì được thực hiện trên thực tế như thế. Trong vài thập kỷ gần đây, do tham nhũng quyền lực trong công tác cán bộ, nên những quan điểm, nguyên tắc, chế độ, quy trình công tác cán bộ rất nhiều nơi, nhiều cấp sai với mục đích. Trước đây, số đông nhân sự cán bộ được sắp xếp là “vì việc mà bố trí người” nhưng hiện nay thì ngược lại, số đông nhân sự được sắp xếp “vì người mà bố trí việc”. Trước đây cán bộ không được Cấp ủy thống nhất đề nghị, và không đảm bảo tín nhiệm thì không thể tiến hành thủ tục đề bạt bổ nhiệm. Bây giờ lại khác, có thể cấp ủy không thống nhất, tín nhiệm không bảo đảm, nhưng trong nhiều trường hợp khi đã có sự áp đặt và có sức ép do “chạy” thì bằng mọi cách cấp ủy phải thống nhất, phiếu tín nhiệm phải cao. Ý chí của cấp trên và người đứng đầu trong nhiều trường hợp dường như được biến thành hiện thực.

Khi các quan điểm, nguyên tắc, quy định của Đảng về công tác cán bộ, không được thực hiện hoặc bị biến thái, không thực chất, không những không lựa chọn được cán bộ có đức, có tài đảm nhận các chức danh quan trọng để phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân mà còn biến công tác cán bộ thành nơi mua bán chức quyền. Tỷ lệ cán bộ đảng viên suy thoái, tham nhũng trong bộ máy nhà nước ngày càng tăng lên thì việc “chạy” theo danh lợi, quyền lực, tiền bạc trở nên sôi động, tạo thành những làn sóng ngầm, những thế lực ngầm chi phối nhiều hoạt động của tổ chức, cá nhân trong bộ máy Nhà nước. Thành trì của “nhóm lợi ích” không thể đột phá, sự gieo mầm “tư bản thân hữu” không thể ngăn chặn. Vì thế, chúng ta không thể nào chống được giặc “nội xâm” và cơ hội lợi dụng chống phá của giặc ngoại xâm ngày càng lớn.

10h28: Công tác cán bộ là gốc rễ, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, kể cả yếu kém trong quản trị quốc gia cũng có nguyên nhân từ công tác cán bộ. Thưa TS Hoàng Xuân Lương, trong đấu tranh phòng chống tham những thoái hóa biến chất đã phát hiện ra hàng loạt cán bộ mắc sai phạm, sai lầm nghiêm trọng, vậy chúng ta sửa đổi những sai lầm, thiếu xót, tiêu cực trong công tác cán bộ hiện nay như thế nào để đáp ứng được yêu cầu?

Tôi hoàn toàn đồng tình với đánh giá của rất nhiều nhà nghiên cứu là hơn 90 triệu dân nước Việt không thiếu người tài, thời nào cũng vậy. Chỉ có điều công tác cán bộ làm sao phát hiện, đào tạo, sử dụng nhân tài một cách hiệu quả, để họ cống hiến nhiều nhất cho xã hội. Tuyển chọn người thực tài cả về năng lực và đạo đức “ vừa hồng, vừa chuyên” (Hồ Chí Minh) thì mới có lợi cho nước, cho dân.

Thế nhưng, chúng ta lại chưa có cơ chế để tuyển dụng đúng người tài để sử dụng vào những vị trí trọng yếu? Lịch sử của dân tộc ta, của đất nước ta đã chứng minh rằng, tại bất cứ thời điểm lịch sử nào, dân tộc ta cũng tìm được người giỏi để trao cho họ sứ mệnh lịch sử dân tộc. Chúng ta đang vấp phải khó khăn trong công tác cán bộ khi tệ nạn tham nhũng, tiêu cực đang là một vấn nạn. Hiện tượng tham nhũng trong công tác cán bộ chính là nạn chạy chức, chạy quyền. Vì sao chạy chức, chạy quyền lại xảy ra tràn lan? Tôi lấy ví dụ, ngay một anh cấp  phòng ở cấp Huyện đã phải chạy rồi, để chạy được chức đó cũng phải bỏ ra một khoản tiền, khi đạt được rồi thì họ lại tìm mọi cách để bù đắp lại.  Chức nhỏ đã vậy, đã chạy thì cái anh cấp trên chắc còn làm lớn hơn nữa, nên cuối cùng cả một xã hội thành một hệ thống chạy, vấn đề này tôi rất đồng tình với loạt bài “Chống được Chạy sẽ thành công” của nhà báo Nguyễn Hòa Văn. Nếu như chúng ta không chịu đổi mới thì chắc chắn chuyện chạy chọt chức quyền trong cán bộ không thể khắc phục được.

Cái gốc của công tác cán bộ là phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ta đối với hệ thống chính trị, đối với quốc hội, đối với chính phủ, mặt trận… Để thay đổi, đổi mới phương thức lãnh đạo, thì cần phải phát huy dân chủ thực sự, thực chất. nhiều việc ta còn dân chủ hình thức . Tôi lấy ví dụ, trong một thôn bản, người dân biết ai sống tốt với dân, hy sinh vì tập thể. Do đó, nếu dân tự họp nhau lại, giới thiệu ai là người lãnh đạo mình là hợp lý. Tại sao chúng ta không phát huy được điều này?. Đừng sợ người dân chọn lựa sai mà cứ để cho người dân lựa chọn lãnh tụ ở thôn bản mình, thì tôi tin chắc lựa chọn đó sẽ hoàn toàn chính xác. Đối với cấp huyện, tỉnh cũng vậy, nếu phát huy được sự giám sát, phản biện và tham gia công tác cán bộ của  Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể, các Hội quần chúng thì lựa chọn cán bộ sẽ chính xác hơn nhiều..

Theo tôi, trong đội ngũ cán bộ, người nào có đức độ, người nào biết chăm lo đến lợi ích của người khác thì chắc chắn họ sẽ vận dụng thực hiện các giải pháp dân chủ mà Đảng nêu ra một cách trọn vẹn và ở nơi đó sẽ thực hành dân chủ tốt. Chúng ta chưa xây dựng được một thể chế, một hệ thống tổ chức mà đảm bảo ai vào vị trí lãnh đạo đó cũng sẽ phát huy dân chủ, phải phát huy dân chủ, muốn độc đoán chuyên quyền cũng không thể làm được.

Luật bầu cử QH,HĐND các cấp của nước ta còn nhiều hạn chế,chưa thực sự dân chủ và thực chất dân chủ.Cần phải thay đổi luật bầu cử để lựa chọn được những đại biểu vì nước, vì dân, có năng lực, phẩm chất và điều kiện sức khoẻ, thời gian...thực hiện tốt nhiệm vụ đại biểu. Đây là vấn đề rất quan trọng trong đổi mới chính trị, sẽ góp phần giám sát, kiểm soát quyền lực có hiểu quả. Ai đó muốn thay đổi thể chế, muốn sửa đổi hiến pháp, chúng ta phải xem xét động cơ và không nên đặt ra bàn luận lúc này. Chúng ta cần kiên trì và trung thành với con đường đã chọn.Tuy nhiên để khắc phục những sai lầm, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ đe doạ đến vai trò lãnh đạo của đảng và tồn vong của chế độ,cần đổi mới triệt để phương thức lảnh đạo của đảng và sửa ngay một số luật, trong đó có luật bầu cử.Số lượng đại biểu quốc hội chuyên trách phải chiếm đa số trong quốc hội.Việt nam ta không thiếu người tài đức,vậy sao cứ để các cán bộ  kiêm nhiệm nhiều chức trách.Vừa là Bộ tưởng,vừa là đại biểu quốc hội,vừa thiếu thì giờ lại vừa đá bóng vừa thổi còi Người được chọn vào danh sách bầu đại biểu QH,HĐND các cấp phải được dân bầu từ dưới lên theo một quy trình thực chất dân chủ.Về cơ cấu chỉ chú ý thành phần dân tộc và tôn giáo.Không nên quan tâm nhiều đến độ tuổi và bằng cấp. Đảng chỉ định hướng xác định tiêu chuẩn đại biểu, các điều kiện cần có của một đại biểu, Đảng không can thiệp vào nhân sự cụ thể. Hội đồng bầu cử cũng được lựa chọn dân bầu từ dưới lên.Phát huy tự do ứng cử và tự do lựa chọn bầu đại biểu, không ai được can thiẹp quyền bầu cử của công dân. Phát huy trách nhiệm cao nhất của MTTQVN trong tổ chức bầu cử. Lâu nay công dân thực hiện quyền bầu cử, nhiều nơi người đi bầu không được tiếp cận thông tin cá nhân của ứng cử viên, nhiều nơi có định hướng chi phối...viêc bầu cũng không được thực chất, thực sự dân chủ. Dân chủ hình thức sẽ tăng thêm nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ. Sửa luật bầu cử mới chống được "chạy" làm đại biểu QH, HĐND các cấp. Mới xây dựng được quốc hội vững mạnh, mới đúng bản chất NN của dân, do dân, vì dân.

10h34: ThưaTS Lương Ngọc Vĩnh, tham nhũng quyền lực trong công tác cán bộ và mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức là hai yếu tố đang làm cho nguy cơ đe dọa sự tồn vong chế độ ngày càng nghiêm trọng thêm. Ông nhân định thế nào về vấn đề này?

Tôi đồng ý với ý kiến đó và cũng đang rất trăn trở về vấn đề này. Thứ nhất  vấn đề cán bộ và công tác cán bộ đã được chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta coi trọng  từ  rất sớm. Cán bộ và công tác cán bộ được coi là nguyên nhân của mọi nguyên nhân trong thành công hay thất bại của cách mạng. Chỉ có điều, chúng ta nói thì rất hay nhưng không chịu làm nó mới đến nông nỗi như hiện nay. Ta cũng có đầy đủ quy chế, quy trình, quy định về công tác cán bộ cả rồi đấy. Nhưng cũng như luật pháp vấn đề là thực hiện không nghiêm. Đến giờ mọi cái sai lầm, khuyết điểm trong công tác cán bộ mới bộc lộ ra từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Tôi nói thật, trong con mắt dân, hình ảnh người cán bộ bây giờ xấu xí lắm. Không con ông cháu cha, thì cũng chạy chọt, không tham nhũng thì sao mà giàu thế…

Theo tôi quan trọng nhất hiện nay là chọn được người có tài và có tâm để làm tham mưu về công tác cán bộ, đồng thời  phát huy trách nhiệm đi đôi với kiểm soát  quyền lực của người đứng đầu.

Thứ hai là công khai minh bạch mọi vấn đề về công tác cán bộ, trừ bí mật quốc gia.

Thứ ba là tăng cường giám sát của cấp trên, của nhân dân đối với công tác cán bộ, bản thân người đi giám sát cũng phải được giám sát.

Vấn đề dân chủ thì quá rõ rồi.  Mất dân chủ hay dân chủ hình thức, giả hiệu suy đến cùng đều là không thực hiện dân chủ cả thôi. Không dân chủ là không tôn trọng người dân, không lắng nghe tiếng nói của người dân, không cho người dân thực hiện cái quyền của mình như Bác nói: bao nhiêu quyền lực đều ở nơi dân. Đảng tồn tại dựa trên niềm tin của dân, niềm tin không còn thì Đảng cũng chẳng có lý do gì để tồn tại. Quyền lực nhà nước là do dân ủy quyền, nếu dân không tin, đòi lại  quyền thì chế độ sụp đổ cũng là đương nhiên. Tôi muốn nói thêm một thực tế này, là thực thi dân chủ trong xã hội có khác với dân chủ trong hệ thống chính trị. Khi tổ chức đảng, chính quyền  bị nhóm lợi ích thâu tóm, khi người tích cực trở nên  đơn thương, độc mã bởi người tiêu cực chiếm số đông thì người ta rất dễ lợi dụng dân chủ để hạ bệ, lật đổ người tốt và được ngụy trang khéo léo bởi ý kiến đa số.  Đây là nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cả một tổ chức, rất nguy hiểm.

10h38: Thưa đại tá, nhà báo Nguyễn Hòa Văn, như đã nêu ở phần trên thời gian gần đây báo chí nói nhiều về phòng chống tham nhũng lãng phí, chống lợi ích nhóm, đây là thứ “giặc nội xâm” đe dọa đến tồn vong của chế độ. Chống được tham nhũng sẽ bảo vệ được Đảng và chế độ, vậy tại sao nhà báo lại đặt tít cho loạt bài viết của mình là: Chống được "chạy" sẽ thành công. Theo ông thì hiện nay cần phải tiến hành cá giải pháp nào để chống “chạy” có hiệu quả?

Lý do đặt title bài “Chống được chạy sẽ thành công”

Đường lối đổi mới của Đảng rất đúng đắn và sáng suốt. Ba mươi năm đổi mới chúng ta đã dành được những thành tựu rất quan trọng. Tuy nhiên, giá như trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta ngăn chặn được tham những quyền lực trong công tác cán bộ, có nghĩa là không có chạy, mua bán chức quyền. Giá như chúng ta không chủ quan duy ý chí, xây dựng được một hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế vận hành bảo đảm khoa học, nhất quán, ổn định và thực thi nó một cách hiệu quả, và do đó chúng ta sẽ sử dụng tốt nguồn vốn vay, sử dụng tốt giá trị tài nguyên đất nước và các nguồn lực khác, không bị thất thoát lãng phí. Chúng ta sẽ có điều kiện tập trung được nguồn lực đầu tư cho giáo dục con người, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và các lĩnh vực thiết yếu khác, chắc chắn nguy cơ ảnh hưởng đến tồn vong của chế độ sẽ không còn và đât nước ta đã có một bước tiến dài. Bước tiến của sự phát triển bền vững trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Điều đáng buồn ở đây về kinh tế chúng ta chưa có bước tiến dài bền vững, về xã hội, nhất là đạo đức con người, nhìn tổng thể chung dường như không những không tiến bộ mà còn biến thái phức tạp. Điều đáng nói là có rất nhiều những cán bộ, đảng viên trước đây trung thành với mục tiêu lí tưởng, vững vàng, tâm huyết cống hiến giờ đây có biểu hiện buông xuôi hoặc cùng suy thoái, tham nhũng. Số cán bộ, đảng viên cơ hội, thực dụng trước đây rất ít, giờ lại nhiều lên, nhiều nơi làm cho người trung thực cảm giác bất an. Nhiều người nói: Trước đây “Cây ngay không sợ chết đứng” nhưng giờ thì cây ngay có thể chết. Đây là một bước lùi, sự tụt hậu mà chúng ta phải mất vài ba chục năm nữa mới củng cố lại được.

Giờ đây chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác là phải chống “chạy”. Chống được “Chạy” thì sự nghiệp cách mạng của đảng và nhân dân ta sẽ thành công. Ngược lại, không chống được “chạy” thì mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh không thể trở thành hiện thực. Chống “chạy” là nội dung có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong tình hình hiện nay.Chống được “chạy” sẽ tạo ra được thuận lợi căn bản và động lực mới cho sự phát triển toàn diện của đất nước.Chống “chạy” đồng nghĩa với chống tha hoá,suy thoái,tham nhũng,lãng phí, “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” và nhiều tiêu cực khác trong đời sống xã hội;đồng thời giữ gìn vun đắp các giá trị truyền thống,tạo dựng, bảo vệ các giá trị hiện đại,thanh lọc loại trừ các giá trị giả,bảo vệ,tôn vinh,phát huy các giá trị thậtvà như thế mục tiêu công bằng xã hội sẽ đến gần hơn.

Chống tham nhũng là chống người có quyền lực, chống “chạy” vừa chống người có quyền lực (được cậy nhờ, xin) vừa chống cả người không có quyền lực (phải đi cậy nhờ, xin người có quyền lực). Nói trong bình diện hẹp là chống người nhận hối lộ và người đưa hối lộ. Phát hiện tham nhũng khó hơn phát hiện”chạy”. Vì vậy đặt tit bài “Chống được “chạy” sẽ thành công” như một lời kêu gọi đối với mọi người trong xã hội cần phải tham gia chống “chạy” để diệt trừ “giặc nội xâm” cứu lấy chế độ.

*Giải pháp chống “chạy”

Sửa lỗi hệ thống, sửa đổi công tác cán bộ, phát huy dân chủ và truyền thông là ba giải pháp đồng bộ diệt trừ tham nhũng, quét “giặc nội xâm”

*Sửa lỗi hệ thống

Đảng ta đề ra nhiều giải pháp chống suy thoái, tham nhũng, các giải pháp đó vẫn phải được quán triệt và thực hiện đầy đủ.Tuy nhiên, nguyên nhân của “chạy” ngày càng nghiêm trọng một phần do yếu kém trong quản trị quốc gia, trong đó có việc duy trì quá lâu cơ chế xin cho. Vì vậy để tạo ra được sự đột phá vào thành trì của tham nhũng,lãng phí “nhóm lợi ích” và chống được tâm lý coi trọng "chạy" trong xã hội ta hiện nay cần nghiên cứu đến các giải pháp mang tính đặc biệt.

Trước hết nói về giải pháp chiến lược, chúng ta phải tiền hành sữa “lỗi hệ thống”, lỗi về thể chế. Vừa qua, chủ trương xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ là một chủ trương đúng đắn và sáng suốt, nhằm sửa chữa các sai lầm từ thể chế mà lâu nay đang tạo ra nhiều trở ngại, vướng mắc, khó khăn, ngăn cản hoặc làm sai lệch các mục tiêu hành động chung và mục tiêu hành động của các nghành, các cấp.

Để thực hiện thắng lợi Chủ trương xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ cần phải nghiên cứu, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và có bước đi phù hợp.Vấn đề gì làm được ngay và nên làm ngay phải làm quyết liệt, vấn đề gì chưa làm được ngay cũng phải xác định lộ trình cụ thể.

Lâu nay chúng ta quản trị đồng tiền không tốt, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho kinh tế xã hội. Chúng ta nói xóa bỏ cơ chế xin cho. Nhưng cho đến nay cơ chế đó vẫn tồn tại. Người có quyền càng to thì hưởng lợi của việc xin cho càng lớn. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nhiều cán bộ giàu lên bất thường. Và câu chuyện “ngồi mát ăn bát vàng” lại trở thành hiện tượng phổ biến. Tư tưởng giai cấp vô sản dần dần được nhường chỗ cho tư tưởng của giai cấp tư sản trong từng con người đảng viên, cán bộ cụ thể.

Trên thực tế có nhiều cán bộ, đảng viên bị chi phối, bị cuốn hút vào quyền lực và tiền bạc.Như vậy, thì họ không còn tâm huyết với nhiệm vụ, họ quên hoặc xao nhãng với công việc được giao. Họ chỉ biết dùng quyền lực và tiền bạc có được để tiếp tục làm cho nó lớn lên nhằm phục vụ lợi ích riêng của họ mà thôi.

Vậy cơ chế xin cho cần phải bỏ ngay, thay đổi ngay. Phải thay đổi cơ chế xin cho bằng một cơ chế khác. Muốn vậy phải tiến hành sửa đổi nội dung của hệ thống pháp luật liên quan. Cơ chế mới là cơ chế mà tổ chức có nhu cầu không phải đi xin và tổ chức có trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản không có quyền cho. Thí dụ: Việc cấp ngân sách chi thường xuyên để thực hiện chế độ chính sách theo quy định của pháp luật vẫn tiến hành như lâu nay. Riêng ngân sách để chi phí trực tiếp cho thực hiện nhiệm vụ, có thể bằng cơ chế đặt hàng, cơ chế vay vốn hoặc cơ chế khoán. Quan trọng là pháp luật phải quy định chi tiết, cụ thể về thẩm định giá thành, nghiệm thu sản phẩm, thanh quyết toán theo những nguyên tắc, quy trình, thủ tục bảo đảm không tồn tại cơ chế xin cho. Đồng thời việc sử dụng tài chính tài sản công được công khai minh bạch, được quản lý, giám sát chặt chẽ. Thí dụ: đơn vị A có nhu cầu một số lượng ngân sách để hoàn thành một nhiệm vụ được giao. Số lượng ngân sách này đơn vị A không phải đi xin và không phải duyệt cấp. Đơn vị A có thể được đi vay tại ngân hàng một khoản kinh phí theo dự toán. Dự toán này được ngân hàng cho vay xem xét giải quyết theo nhiệm vụ được giao. Ngân hàng làm thế nào để không bị đơn vị A chiếm dụng vốn hoặc thiếu vốn. Sau khi đơn vị A hoàn thành nhiệm vụ, được các cơ quan có trách nhiệm nghiệm thu kết quả bảo đảm mới tiến hành thẩm định chi phí thực tế mà đơn vị A đã thực hiện (cơ chế buộc đơn vị A phải bảo đảm chất lượng, hiệu quả của sản phẩm). Việc thẩm định chi phí thực tế này phải tổ chức như thế nào để bảo đảm đúng với giá thị trường. Sau khi được thẩm định chi phí thực tế mới tiến hành thanh quyết toán. Hoàn tất việc thanh quyết toán mới thực hiện thủ tục cấp ngân sách để trả khoản vốn vay cho ngân hàng.

Vừa xóa bỏ cơ chế xin cho vừa phải xóa bỏ thực tế “vừa đá bóng vừa thổi còi” “quyền rơm vạ đá”. Thí dụ việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện các dự án có tiêu ngân sách Nhà nước nên quy định chủ đầu tư chỉ là người lập, trình thẩm định và phê duyệt dự án. Chủ đầu tư không có quyền lựa chọn nhà thầu và Ban quản lý dự án. Người thẩm định dự án, không có quyền lựa chọn nhà thầu, tổ chức tư vấn. Người phê duyệt dự án, chỉ có quyền phê duyệt chủ trương, không có quyền phê duyệt chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn, giám sát là ai và thậm chí không có quyền phê duyệt mức đầu tư. Mức đầu tư có thể giao một cơ quan của quốc hội, của hội đồng nhân dân các cấp. Mức đầu tư có thể được xác định sau khi thẩm định giá trị chi phí thực tế của dự án. Việc cấp vốn cho dự án có thể thực hiện cơ chế vay vốn tại ngân hàng như nêu ở phần trên.Và chỉ cấp tối đa 70% dự toán.Sau khi hoàn thành công trinh được nkieemr toán chốt lại khối lượng và giá trị mới cấp đủ.Việc chọn nhà thầu và tư vấn giám sát chỉ được tiến hành sau khi có quyết định phê duyệt dự án và thông qua tổ chức chức đấu thầu bằng một thủ tục đặc biệt, có sự giám sát, phản biện của cơ quan, đơn vị được bàn giao công trình sử dụng. Việc đấu thầu do một tổ chức độc lập, chủ trì.

Trong thanh quyết toán, kiểm toán hiện nay có nhiều việc chi thật không được quyết toán, chi không thật lại được quyết toán. Chúng ta phải tập cho cán bộ, nhân viên trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp hay doanh nghiệp phải có thói quen quyết toán thật. Đây cũng chính là việc góp phần giáo dục con người có phẩm chất trung thực, không dối trá. Chính việc hợp thức hóa chứng từ, sẽ tạo thêm phức tạp trong quản lý tài chính và quản lý nội bộ. Hiện nay vì có những chi phí tiêu cực nên không hợp thức hóa chứng từ không quyết toán được. Vậy tại sao chúng ta không qui định công khai mức thù lao giải quyết thủ tục hành chính cho các công đoạn như nghiên cứu xác lập hồ sơ, thẩm định, phê duyệt,…Khi không còn tệ nạn hợp thức hóa chứng từ để quyết toán thì hành vi hợp thức hóa này sẽ dễ phát hiện và được qui vào tội tham ô. Lâu nay, do “cả nhà” hợp thức hóa chứng từ để thanh quyết toán nên các tổ chức có quyền giám sát, kiểm tra tài chính nội bộ nhiều nơi bị vô hiệu hóa. Việc kiểm soát các hoạt động tài chính khó khăn, tạo điều kiện cho tham nhũng. Vấn đề này chúng ta có thể sửa ngay.

Như phân tích trên đây, để có một chính phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ, cần xúc tiến ngay việc sửa đổi nội dung của hệ thống pháp luật về ngân sách, quản lý dự án đầu tư xây dựng, đấu thầu, quản lý tài sản công,…

*Xử lý nghiêm cán bộ suy thoái tham nhũng

Trong lúc còn nhiều “lỗi hệ thống” chưa sửa được, chúng ta cần phát hiện xử lý nghiêm cán bộ suy thoái, tham nhũng. Trong bối cảnh sự vận hành của nền kinh tế nước ta đã hình thành “nhóm lợi ích”, gieo mầm “tư bản thân hữu”. Các việc quan hệ trên chính trường cũng như trong xã hội còn tạo ra nhiều “ê – kíp”, nhiều “đường dây” có chung lợi ích, thì việc phát hiện, lên án, đưa ra ánh sáng hành vi vi phạm pháp luật là rất khó khăn. Có nhiều trường hợp được phát hiện những do nhiều lý do mà không được xử lý kiên quyết và kịp thời, thậm chí còn để “chìm xuồng”. Do vậy, chúng ta cần đặt vấn đề xử lý kịp thời trách nhiệm hành chính đối với người đứng đầu cơ quan đơn vị và người trực tiếp có hành vi vi phạm. Có trường hợp chỉ dừng lại xử lý trách nhiệm hành chính, có trường hợp sau xử lý trách nhiệm hành chính sẽ xử lý hình sự, nhưng việc xử lý trách nhiệm hành chính phải làm ngay.

Lâu nay chúng ta đề cao trách nhiệm của người đứng đầu nhưng khi có chuyện cần xử lý người đứng đầu như thế nào để đạt được mục đích, xem ra vẫn còn lúng túng. Nếu chờ có đủ chứng cứ và thực hiện theo quy trình, có khi xử lý 01 cán bộ mất cả năm. Tại sao chúng ta không quy trách nhiệm ngay. Tuy việc xử lý con người phải thận trọng, không được để xảy ra oan sai. Nhưng, khi đã đặt vấn đề xử lý trách nhiệm hành chính trước thì oan sai dường như rất khó xảy ra. Để xảy ra những bất thường, những tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng, người đứng đầu có thể không liên quan gì với vụ việc vi phạm cụ thể, nhưng xử lý ngay trách nhiệm hành chính đối với họ, không thể nói là họ bị oan.

Khi phát hiện cơ quan, đơn vị có vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật, cơ quan cấp trên có thẩm quyền phải xác minh ngay diễn biến, nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh, sau đó cung cấp thông tin cho báo chí và các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm giám sát. Có thể chất vấn công khai người đứng đầu, người trong cuộc làm cho vụ việc được sáng tỏ, minh bạch, không bị giấu giếm. Tùy theo tính chất vụ việc, mức độ vi phạm mà xử lý ngay trách nhiệm người đứng đầu bằng các hình thức: cách chức, thôi chức, tạm thời đình chỉ công tác, cảnh cáo, khiển trách, buộc khắc phục hậu quả…

Do tham nhũng có nguyên nhân khách quan từ “lỗi hệ thống” nên riêng cán bộ bị phát hiện có hành vi tham nhũng cần tuyên truyền, vận động, thuyết phục cán bộ tự giác nộp lại tiền bị thiệt hại. Nếu việc tự giác này được thực hiện thì coi đây là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, giống như tình tiết ra đầu thú của tội phạm khác. Đồng thời do tham nhũng phát triển tràn lan nên Đảng, nhà nước cần phân loại tham nhũng lớn, tham nhũng vừa và tham nhũng “vặt”. Trước hết cần tập trung sức xử lý tham nhũng lớn và tham nhũng vừa.

Để tăng cường lãnh đạo chỉ đạo nhằm thực hiện nghị quyết TW4 khóa XII đạt hiệu quả, vừa qua Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành các quy định về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp; tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là những văn bản rất quan trọng nhằm tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, đồng thời góp phần chống chạy chức, chạy quyền đang diễn ra rất phức tạp.

*Sửa đổi công tác cán bộ và phát huy dân chủ, truyền thông

Một trong những giải pháp rất quan trọng để chống tham nhũng, lãng phí, chống chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy chỗ, chạy danh hiệu, chạy chính sách,…Hiện nay, cùng với xây dựng Chính Phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ là sửa đổi công tác cán bộ và phát huy dân chủ, truyền thông

*Sửa đổi công tác cán bộ

Một là, hiện nay động cơ mục đích phấn đấu trở thành đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức khác trước, phần nhiều số người phấn đấu vào Đảng là để tiến thân, là để từng bước được nắm giữ các vị trí có quyền lực. Đây là vấn đề đã được cảnh báo. Nếu bây giờ không có cách khắc phục thì tương lai không xa, số mang danh đảng viên, mang danh cán bộ, công chức, viên chức đều là những người cơ hội. Muốn củng cố Đảng trong sạch, vững mạnh, bộ máy nhà nước hoạt động vì dân cần phải nghiên cứu đề ra và thực hiện ngay các giải pháp tuyển chọn, xây dựng nguồn phát triển Đảng, bổ sung nguồn cán bộ, công chức, viên chức,… Thi tuyển là một hình thức hay, nhưng làm thế nào để có kết quả thực chất. Cần phải có qui định cán bộ không được tìm cách đưa người vào biên chế, nếu không đủ tiêu chuẩn, không có nhu cầu. Người nhà thi vào biên chế, thực hiện các thủ tục vào biên chế bình đẳng như các đối tượng khác.

Hai là, sắp xếp bố trí cán bộ không được bố trí nhầm người, sai người, nhầm chỗ, sai chỗ, nhất là người đứng đầu. “Dụng nhân như dụng mộc” chủ yếu nói về mặt năng lực, đánh giá năng lực cán bộ để sử dụng phù hợp. Người đứng đầu các cấp, là người phải tuyệt đối trung thực, không tham lam quyền lực và tiền bạc, tâm huyết phục vụ Đảng phục vụ nhân dân. Dân gian có câu “giang sơn có thể đổi nhưng bản tính khó dời”. Cần tìm mọi cách thanh lọc ngay những cán bộ cơ hội, thực dụng, suy thoái, tham nhũng ra khỏi bộ máy nhà nước. Trước hết tập trung đối tượng người đứng đầu các cấp. Nắm vững định hướng khung tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, lãnh đạo quản lý các cấp mà Tổng Bí thư vừa mới ký ban hành để triển khai thực hiện. Cần kết hợp với thực hiện chức trách nhiệm vụ để tiến hành kiểm tra, giám sát qua đó thanh lọc đưa được cán bộ xấu ra khỏi các cơ quan công quyền.

Hiện nay, để thực hiện được yêu cầu này là rất khó khăn. Khó khăn là ở chỗ công việc đánh giá cán bộ lâu nay luôn là một việc khó, đồng thời giao việc cho cán bộ làm nhiệm vụ kiểm tra giám sát, không khéo lại giao vào tay những cán bộ cơ hội, thực dụng thì không những không thanh lọc làm trong sạch được nội bộ mà còn vấy bẩn thêm chủ trương mà chúng ta muốn thực thi.

Để tiến hành việc kiểm tra giám sát nhằm đưa được cán bộ suy thoái ra khỏi bộ máy của hệ thống chính trị, đây là một vấn đề hệ trọng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần quy định cụ thể về cách làm, chỉ đạo trực tiếp một số ngành, địa phương có nhiều vấn đề nổi cộm có nguyên nhân từ công tác cán bộ. Nên thành lập tổ chức tư vấn giúp các cấp ủy Đảng, những thành viên trong tổ chức này không bị lệ thuộc ràng buộc gì đối với Cấp ủy được tư vấn về quyền lợi kinh tế, chính trị.

Kết hợp chủ trương thanh lọc cán bộ xấu ra khỏi bộ máy nhà nước, các cơ quan trong hệ thống chính trị, chúng ta cần tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ cấp cao có thời gian nghiên cứu tình hình, thâm nhập thực tế... để cán bộ thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ được giao bằng chính phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của mình. Muốn vậy, phải tiếp tục cải cách hành chính đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, giảm tối đa thời gian họp và trên đường công tác.

Ba là, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục rèn luyện cán bộ để cán bộ không chạy, không tranh giành quyền chức. Người xưa thường nói “có lương thực ngàn gánh cũng chỉ ăn một ngày ba bữa, có căn nhà lớn mười tầng cũng chỉ ngủ ở một gian, báu vật trăm xe ngựa trong lòng vẫn buồn phiền, quan to lộc hậu cũng là đi làm hàng ngày, vinh hoa phú quý cũng chỉ thoáng qua như mây khói”. Vậy làm sao chúng ta phải cứ tranh giành nhau?

Nhiều nơi nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, đồng chí với nhau mà thiếu sự chân tình, thường oán trách nhau, đố kỵ nhau, thậm chí còn dùng các chiêu trò thủ đoạn để lừa dối nhau, tất cả đều là kết quả của sự tranh giành. “Suy cho cùng tranh giành cũng để thỏa tâm ích kỷ mà thôi. Nhiều khi tranh giành được quyền và tiền trong tay thì hạnh phúc sẽ mất đi, tranh giành được thanh danh thì niềm vui cũng chả tồn tại, những thứ không thuộc về bản thân mà tranh giành sẽ khiến tâm bất an”.

Tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể cần phải tuyên truyền giáo dục để Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức không tranh giành, không “chạy”. Tuyệt đối không tham vọng quyền lực. Đảng cử cán bộ ra, dân bầu cán bộ lên nắm giữ các cương vị để phục vụ dân chứ không phải để cai trị dân, áp bức dân. Chúng ta đứng trong hàng ngũ của Đảng, những người ưu tú tiêu biểu của giai cấp, dân tộc, suy nghĩ, hành động của chúng ta phải theo hướng hy sinh, cống hiến nhều hơn. Phải biết đồng cảm, chia sẻ những cảnh đời khó khăn, cơ cực. Người dân họ có quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc. Nhưng nhiều vùng người dân vẫn sống một cuộc sống dưới mức nghèo khổ, và nhiều nơi sống trong môi trường pháp lý thiếu an toàn do bộ máy suy thoái, nhiều người đã nghèo còn bị oan. Vậy trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, những người hưởng lương từ tiền thuế của dân cần phải suy nghĩ và hành động thế nào cho đúng lý, cho phải đạo?

Lẽ ra chúng ta phải nghĩ đến cuộc sống của người dân để quyết tâm phấn đấu, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đằng này nhiều cán bộ lại say sưa với quyền lực, tiền bạc, chạy chọt, tranh giành những thứ mà không tương xứng hoặc ngược với thực tế đóng góp của mình cho xã hội. Cán bộ phải có lòng tự trọng, phải biết xấu hổ để từ chối những hưởng thụ do công sức trí tuệ người khác tạo ra không thuộc về mình. Từ chối nhận những cương vị mà mình không có khả năng đảm nhiệm. Sẵn sàng thôi đảm nhiệm chức vụ khi mình có sai lầm, khuyết điểm…

*Phát huy dân chủ

Cùng với chuyển đổi từ chế độ tập quyền sang chế độ pháp quyền lẽ ra trong quá trình đổi mới chúng ta phải coi trọng vấn đề dân chủ. Đây chính là sức mạnh chính trị tinh thần là động lực thúc đẩy phát triển. Nhưng trên thực tế dân chủ trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhiều nơi, nhiều cấp, kể cả trong đảng, trong bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư…còn hình thức, chưa thực chất. Dân chủ chưa thực chất thể hiện ngay cả trong bầu cử cơ quan quyền lực nhà nước. Đây cũng là một nguyên nhân gây nhiều hệ lụy xấu.

Ngoài những giải pháp cần lưu ý như nêu ở trên, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ. Phải quyết liệt chống dân chủ hình thức. Phải đổi mới và có bước đột phá về vấn đề này. Thực sự dân chủ, thực chất dân chủ mới bảo đảm được kỷ cương, mới thu hút động viên được nhân tài, vật lực vào sự nghiệp chung.

Không dân chủ không đủ thông tin để quyết định chủ trương, chính sách, giải pháp, biện pháp điều hành thực hiện nhiệm vụ. Không dân chủ không khơi dậy được tinh thần yêu nước, sức sáng tạo và sự quật khởi của nhân dân vào sự nghiệp chung. Không dân chủ không đấu tranh nổi với cái xấu, cái ác. Không dân chủ không đánh giá đúng con người, không phát hiện lựa chọn và thu hút được nhân tài vào các vị trí quan trọng. Không dân chủ không thanh lọc, sàng lọc được cán bộ đảng viên, công chức, viên chức. Không dân chủ không đo lường được dư luận và tâm trạng xã hội… Chúng ta không chấp nhận đa đảng đối lập, nhưng phải thực sự dân chủ, thực chất dân chủ. Dân chủ là cứu cánh để chúng ta phát huy sức mạnh và tiềm năng của toàn dân tộc. Vậy nên phải bổ sung, sửa đổi luật pháp và các quy định hành chính để phát huy dân chủ. Vấn đề này các cơ quan chức năng, hệ thống cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp cần bàn sâu để có những quy định phù hợp và thực hiện có hiệu quả. Đi đôi với dân chủ phải chống mị dân.

*Phát huy vai trò báo chí và truyền thông xã hội

Riêng trên diễn đàn báo chí và truyền thông xã hội, phải bảo đảm tự do ngôn luận theo đúng qui định của pháp luật. Chúng ta kiên quyết đấu tranh với các quan điểm, luận điệu tuyên truyền chống phá, chống đối chế độ, nhưng cần phải có nhiều tiếng nói với góc nhìn đa chiều, thậm chí khác biệt về những vấn đề theo dòng chảy thời cuộc. Cần tạo được nhiều diễn đàn giám sát và phản biện xã hội, tạo được bầu không khí dân chủ thực sự để giải tỏa những ấm ức, bức xúc của cán bộ, đảng viên và người dân. Thông qua đó các cơ quan Đảng, Nhà nước đo lường được tâm trạng xã hội để điều chỉnh, bổ sung chính sách, giải pháp điều hành, chỉ đạo phù hợp. Đồng thời phát hiện phục vụ đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, suy thoái. Phải triệt để khai thác công nghệ hiện đại của báo chí và truyền thông xã hội để phục vụ các yêu cầu nói trên. Trong lĩnh vực này, những gì pháp luật cấm phải thực hiện nghiêm và xử lý nặng các hành vi vi phạm, như thông tin sai sự thật, xuyên tạc, kích động, chống phá nhà nước, gây bất ổn xã hội; xúc phạm danh dự nhân phẩm, cá nhân; làm lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự… Những gì chưa có qui định cấm, cần phải bổ sung. Cấm đưa thông tin lên mạng xã hội cũng giống như cấm đối với báo chí. Cần phải giáo dục cho toàn dân sống phải có trách nhiệm đối với xã hội. Không vì sở thích, hiếu kỳ, mâu thuẫn, ganh ghét cá nhân hoặc vì những động cơ mục đích thiếu trong sáng mà đưa lên mạng xã hội những nội dung thông tin trái ngược với lợi ích cộng đồng, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thiếu tinh thần xây dựng.

Nhiều người cho rằng: Tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức đã suy thoái nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm nay. Đảng nói nhiều, dân oán thán, nhưng không được phát hiện. Mà có phát hiện thì cũng chỉ đạt được một phần nghìn số lượng cá nhân, vụ việc mà thôi. Nhờ có báo chí và mạng xã hội mà cái xấu, cái ác cùng với sự tha hóa về quyền lực trong hệ thống chính trị mới bị phát giác, bị lên án mạnh mẽ và kịp thời.

Không có mạng xã hội việc xử lý thông tin vụ việc vẫn như lâu nay.Không hiếm những sự việc, cơ quan có trách nhiệm nghe thông tin một chiều, có những vụ việc, người dân bị oan, suốt đời đi kiện mà vẫn không được bảo vệ được sự thật, không giải oan được.

Cần phải coi khai thác, sử dụng triệt để tính tích cực của báo chí và truyền thông xã hội là một giải pháp rất quan trọng và hiệu quả trong công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, kiến thức, bản lĩnh, đạo đức con người, đồng thời cần khuyến khích toàn dân phát hiện tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thông qua báo chí và truyền thông xã hội.

*Thông điệp: Con đường đi lên CNXH là con đường đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn. Đã là Đảng viên Cộng sản phải kiên định với con đường này. Đây là phẩm chất bản lĩnh chính trị của Đảng viên. Tuy còn nhiều thử thách, khó khăn thậm chí là đã có nhiều thất bại, chúng ta phải trả giá nhưng không thể lay chuyển nhận thức chân lý của mình: Mặc dù CNTB đang thịnh hành trên thế giới, sự vận động hiện tại của thế giới đang có lợi cho CNTB nhưng tương lai nhân loại không thuộc về CNTB mà thuộc về CNCS.Chúng ta có con đường đi riêng của mình.Chúng ta phải học cách quản trị của CNTB, phải tiếp thu thành tựu công nghệ của CNTB,phải hợp tác hội nhập sâu với các nước Tư bản…nhưng con đường chúng ta đi lên là con đường XHCN.Ở đây chúng ta không hề bảo thủ với tư duy lý luận của mình,mà thực tiễn cho thấy nếu đảng cộng sản không mắc sai lầm,không bị căn bệnh chủ quan, giáo điều chắc chắn CNXH đã và sẽ phát triển lớn mạnh,tính ưu việt của nó sẽ vượt trội CNTB.

          Chúng ta có 90 triệu dân tâm huyết xây dựng theo con đường XHCN lại để cho một vài triệu người phá hoại. Chúng ta có gần 4 triệu đảng viên kiên trì thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình lại để cho một vài vạn đảng viên cơ hội suy thoái làm sụp đổ chế độ.

          Chúng ta có những sai lầm, thiếu sót, những căn bệnh nan y cố hữu tồn tại lâu cần phải được sửa đổi triệt để. Cần phải tiến hành cuộc đại phẫu thuật về sửa lỗi hệ thống, sửa sai công tác cán bộ, đồng thời phát huy triệt để dân chủ để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và cứu lấy chế độ.

10h57: Thưa TS Trần Bá Dung, Bàn về Dân chủ và Báo chí Truyền thông, thực tiễn hiện nay đặt ra rất nhiều vấn đề mới. Đề nghị TS cho biết vai trò của báo chí truyền thông trong phát huy dân chủ, phòng chống tham nhũng, suy thoái “tự diễn biến, tự chuyển hóa”.

Báo chí – truyền thông có vai trò to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, không chỉ là vấn đề nhận thức, vấn đề lý luận, mà thực tiễn đã và đang ngày càng chứng minh điều đó. Tuy nhiên, trên thực tế không phải ở đâu và lúc nào, vấn đề này cũng được nhận thức một cách đầy đủ như nó cần được nhận thức. Và không phải lúc nào báo chí, nhà báo cũng được tạo điều kiện để tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vẻ vang đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó và luật pháp quy định là “phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội”. Mặt khác, ngay chính bản thân các nhà báo không phải lúc nào cũng có đủ nhận thức, tri thức và kĩ năng tác nghiệp, để vừa tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí một cách có hiệu quả, vừa đảm bảo an toàn nghề nghiệp cho bản thân và cho cơ quan báo chí…

Về vai trò của báo chí truyền thông trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, có thể nhận diện trên các nội dung sau:

- Báo chí tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí.

- Báo chí phát hiện, phản ánh các biểu hiện (vụ việc) tham nhũng, lãng phí.

- Báo chí phản biện, đấu tranh trước các biểu hiện tiêu cực trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Báo chí nêu gương, tôn vinh các tấm gương, các mô hình tiêu biểu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đấu tranh bảo vệ người tố cáo tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

11h05: Thưa nhà báo Nguyễn Hòa Văn, là người đề xuất ý tưởng với Lãnh đạo Hội và trực tiếp soạn thảo kịch bản, ông hy vọng và mong muốn gì từ cuộc tọa đàm?

Nhà báo Nguyễn Hòa Văn: Hôm nay, tôi thấy có nhiều ý kiến phát biểu rất có giá trị. Mong muốn của Lãnh đạo Hội cũng như Ban Tổ chức là những ý kiến này sẽ góp phần cảnh tỉnh, thức tỉnh làm sao để cho cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm phải sửa ngay không sa đà, lún sâu vào vũng lầy tội lỗi như đồng chí Tổng Bí thu mong muốn: “Ai đã trót nhúng chàm rồi thì phải tự gột rửa.” Mặt khác hy vọng Đảng và Nhà nước tiến hành một cuộc đại phẫu thuật để sửa lỗi hệ thống, để cứu lấy mình. Bằng cách sửa đổi hệ thống pháp luật; nhằm đoạn tuyệt với cơ chế xin, cho; tuyên chiến với lợi ích nhóm; dẹp bỏ sân sau của những quan chức có quyền lực, sửa sai triệt để công tác cán bộ; xóa bỏ nạn chạy chức, chạy quyền; xử lý hành chính ngay người đứng đầu khi ngành mình; cơ quan đơn vị mình xảy ra vụ việc tiêu cực nghiêm trọng; đổi mới triệt để phương thức lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Nhà nước nhằm xóa bỏ thực trạng mất dân chủ, dân chủ hình thức.

Con đường đi lên CNXH là con đường đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn. Đã là Đảng viên Cộng sản phải kiên định với con đường này. Đây là phẩm chất bản lĩnh chính trị của Đảng viên. Tuy còn nhiều thử thách, khó khăn thậm chí là đã có nhiều thất bại, chúng ta phải trả giá nhưng không thể lay chuyển nhận thức chân lý của mình: Mặc dù CNTB đang thịnh hành trên thế giới, sự vận động hiện tại của thế giới đang có lợi cho CNTB nhưng tương lai nhân loại không thuộc về CNTB mà thuộc về CNCS.Chúng ta có con đường đi riêng của mình.Chúng ta phải học cách quản trị của CNTB, phải tiếp thu thành tựu công nghệ của CNTB,phải hợp tác hội nhập sâu với các nước Tư bản…nhưng con đường chúng ta đi lên là con đường XHCN.Ở đây chúng ta không hề bảo thủ với tư duy lý luận của mình,mà thực tiễn cho thấy nếu đảng cộng sản không mắc sai lầm,không bị căn bệnh chủ quan, giáo điều chắc chắn CNXH đã và sẽ phát triển lớn mạnh,tính ưu việt của nó sẽ vượt trội CNTB.

Chúng ta có 90 triệu dân tâm huyết xây dựng theo con đường XHCN không thể để cho một vài triệu người phá hoại. Chúng ta có gần 4 triệu đảng viên kiên trì thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình không thể để cho một vài vạn đảng viên cơ hội suy thoái làm sụp đổ chế độ. Vậy thì chúng ta phải làm thế nào để đạt được vấn đề này, đó cũng là mong muốn của Ban tổ chức và lãnh đạo Hội thông qua việc tổ chức cuộc Tọa đàm này.

Tọa đàm còn được nghe các ý kiến phát biểu tâm huyết, sâu sắc của các nhà báo lão thành như NB Phan Khắc Hải- Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Thường trực HNBVN, NB Lê Quốc Trung- Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HNBVN; NB Hà Minh Huệ- Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HNBVN…về vai trò của Đảng, của báo chí cũng như các giải pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng- Nhận diện suy thoái và “tự chuyển hóa” trong nội bộ…

Một số hình ảnh khác tại buổi tọa đàm: (Ảnh: Tạp Chí Người Làm Báo)

TS Nhị Lê phát biểu tại tọa đàm

PGS, TS Lương Ngọc Vĩnh phát biểu tại tọa đàm

Đại tá Nguyễn Danh Giáp phát biểu tại tọa đàm

Nhà báo Nguyễn Hoà Văn phát biểu

Nhà báo Hà Minh Huệ phát biểu tại tọa đàm

Nhà báo Lê Quốc Trung phát biểu tại tọa đàm

Nhà báo Phan Khắc Hải phát biểu tại tọa đàm

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm sau buổi tọa đàm (Ảnh: Sơn Hải)

Phát biểu tổng kết tọa đàm, đồng chí Hồ Quang Lợi- Phó Chủ tịch Thường trực HNBVN nêu rõ:

 Qua hơn 3 tiếng thảo luận tại toạ đàm, đã có gần 30 ý kiến tham luận, tất cả các ý kiến đã đi sâu phân tích lý giải những nội dung theo chủ đề và câu hỏi mà BTC đặt ra. Bên cạnh đó đồng chí nhấn mạnh một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, cuộc toạ đàm đã thành công, chuyển tải được nhiều nội dung thông tin, nhiều thông điệp đến với lãnh đạo các cấp và công chúng báo chí cả nước. Cuộc toạ đàm đã góp phần nhận diện, nhận thức sâu thêm về giá trị bất diệt, chân lý của CMTM, của CNXH. Đánh giá cao vai trò của báo chí truyền thong xung kích trong mặt trận tư tưởng của Đảng

Thứ hai, tại tọa đàm,  nhiều ý kiến có tầm trí tuệ đã phản biện sâu, phản bác những tư tưởng phủ định Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, giá trị lịch sử của CMTM Nga, khẳng định chân lý của thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Qua báo chí và Truyền thông,  chúng ta đã nhận diện sâu hơn,đầy đủ hơn sự suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức lối sống,tự diễn biến,tự chuyển hoá của mot bộ phận không nhỏ của cán bộ đảng viên. Một bộ phận không nhỏ này đang la nguy cơ đe doạ tồn vong của chế độ,đang làm suy yếu đảng,làm sai lệch mục tiêu lý tưởng cách mạng của đảng và là tác nhân làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với đảng.

Thứ ba, một số ý kiến đã đi sâu phân tích hệ luỵ mà do sự suy thoái, tha hoá trong đảng, trong bộ máy nhà nước tạo ra. Càng chứng minh sâu sắc luận điểm của Lê Nin rằng: Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Nhiều ý kiến tâm huyết, không chỉ liên hệ thực tiễn mà còn kiến giải những vấn đề nóng bỏng mà đất nước ta đang phải “vượt cạn” để tạo sự hồi sinh, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối nghị quyết của Đảng, nhất là việc thực hiện tốt NQ TƯ 4 khóa XII của Đảng

Thứ tư, các đại biểu đề xuất một số giải pháp quan trọng để diệt trừ tệ tham nhũng, quét “giặc nội xâm” được báo chí nêu và được đặt vấn đề trọng tâm nêu ra trong toạ đàm có những điểm mới. Trước mắt, cần đề cao việc  xây dựng thể chế, quy chế phù hợp , kiên quyết xoá bỏ cơ chế xin cho, sửa sai triệt để công tác cán bộ, xoá bỏ vấn nạn mua chức, bán quyền, xử lý trách nhiệm người đứng đầu, đặc biệt là cần đột phá triệt để thực thi dân chủ.

 Đây là những giải pháp quan trong nếu chúng ta không có quyết tâm cao để thực hiện những giải pháp này,đồng nghĩa với đầu hàng “giặc nội xâm”. Tâm nguyện và kỳ vọng của cuộc toạ đàm này là mong muốn Đảng tiến hành một cuộc đại “phẫu thuật” để sửa lỗi hệ thống, thanh lọc bộ máy, sửa sai công tác cán bộ, xoá bỏ mất dân chủ và dân chủ hình thức...

Thứ năm, báo chí – truyền thông có vai trò to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, không chỉ là vấn đề nhận thức, vấn đề lý luận, mà thực tiễn đã và đang ngày càng chứng minh điều đó. Tuy nhiên, trên thực tế không phải ở đâu và lúc nào, vấn đề này cũng được nhận thức một cách đầy đủ như nó cần được nhận thức. Và không phải lúc nào báo chí, nhà báo cũng được tạo điều kiện để tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vẻ vang đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó và luật pháp quy định là “phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội”. Mặt khác, ngay chính bản thân các nhà báo không phải lúc nào cũng có đủ nhận thức, tri thức và kĩ năng tác nghiệp, để vừa tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí một cách có hiệu quả, vừa đảm bảo an toàn nghề nghiệp cho bản thân và cho cơ quan báo chí… Và báo chí cần phải nâng cao trách nhiệm, giúp Đảng nhận ra sai sót, khuyết điểm để tự sửa mình./

Cổng TTĐT Hội Nhà báo Việt Nam