VTV và vài nét về lịch sử ra đời, phát triển của báo hình

Thứ hai, ngày 10 tháng 4 năm 2017 | 13:51:42

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính phủ Lâm thời Việt Nam quyết định xây dựng bộ phận Điện ảnh và Nhiếp ảnh thuộc Bộ Thông tin - Tuyên truyền. Hoạt động chủ yếu của bộ phận này là tổ chức đoàn chiếu phim lưu động chiếu ở những nơi công cộng và lập toa xe Điện ảnh đi chiếu phim dọc Quốc lộ 1 từ Bắc vào Nam với một máy chiếu Débri 16 mm và hai bộ phim tài liệu về phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp do Việt kiều gửi về.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính phủ Lâm thời Việt Nam quyết định xây dựng bộ phận Điện ảnh và Nhiếp ảnh thuộc Bộ Thông tin - Tuyên truyền. Hoạt động chủ yếu của bộ phận này là tổ chức đoàn chiếu phim lưu động chiếu ở những nơi công cộng và lập toa xe Điện ảnh đi chiếu phim dọc Quốc lộ 1 từ Bắc vào Nam với một máy chiếu Débri 16 mm và hai bộ phim tài liệu về phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp do Việt kiều gửi về.

Thời gian này tại Pháp, họa sĩ, nhà quay phim Mai Trung Thứ cùng các Việt kiều khác tổ chức nhóm điện ảnh Sao Vàng, quay được nhiều phim tài liệu: Hồ Chủ tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Sinh hoạt của 25.000 Việt kiều tại Pháp. Trong nước các nhà làm phim cũng ghi được những phim lịch sử như Hồ Chủ tịch từ Pháp trở về (1946), Trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946)...

Sau khi cuộc chiến Việt - Pháp bùng nổ, một số nhà làm phim Cách mạng ở cả miền Nam và miền Bắc tiếp tục thực hiện được những phim tài liệu: Trận Mộc Hóa (1948), Trận Đông Khê (1950), Chiến Thắng Tây Bắc (1952)... Trong đó, phim Trận Mộc Hóa do Khu 8 ở miền Nam thực hiện, được xem là phim đầu tiên của nền Điện ảnh Cách mạng, đã được đem chiếu tại Liên hoan Thanh niên thế giới New Delhi, Ấn Độ năm 1950.

Ngày 15 tháng 3 năm 1953, trên chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 147/SL thành lập Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam. Những hoạt động của các nhà làm phim điện ảnh Cách mạng thời kỳ này chỉ dừng lại ở thể loại phim tài liệu ngắn, như Giữ làng giữ nước quay năm 1953, Điện Biên Phủ năm 1954.

Có thể nói, những nhà quay phim Việt Nam đầu tiên với những thước phim thời sự tài liệu đầu tiên được quay đó cho đến nay chính là những thước phim tư liệu lịch sử vô giá của điện ảnh Việt Nam. Chính vì tính chất thời sự, tài liệu của những thước phim này, có thể khẳng định, Việt Nam đã có báo hình ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Năm 1956, Xưởng phim thời sự tài liệu tách ra khỏi Xưởng phim Việt Nam. Đến năm 1989, Xưởng phim thời sự tài liệu đổi tên thành Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương (TL&KHTW). 60 năm qua, các nhà làm phim tài liệu với vai trò là phóng viên ghi chép lịch sử bằng hình ảnh, đã có nhiều đóng góp cho điện ảnh và báo chí nước nhà bằng hàng loạt những giải thưởng lớn tại liên hoan phim quốc gia và quốc tế, đồng thời để lại cho lịch sử những thước phim tư liệu vô giá, nhiều tác phẩm điện ảnh – tài liệu có chất lượng như: Hồ Chí Minh - chân dung một con người, Nơi chiến tranh đã đi qua, Trở lại Ngư Thủy…

Lúc sinh thời Bác Hồ từng đến thăm Xưởng phim Thời sự Tài liệu Việt Nam. Bác từng căn dặn các thế hệ nhà báo - nghệ sĩ điện ảnh tài liệu về công việc mà họ đang làm: “Cái máy quay phim trong tay các cô, các chú chỉ là một vật dụng bằng sắt, vô tri vô giác, con mắt và trái tim các cô, các chú mới là chính. Quay phim và chụp hình là nghệ thuật của ánh sáng, mỗi bước trong quá trình thể hiện là một bước về phía ánh sáng, về phía cảnh vật và con người. Trong nghề tìm được con người chân thực là rất xúc động”.

Hãng phim luôn là cánh chim đầu đàn trong lĩnh vực sản xuất phim tài liệu và là nơi ghi dấu sự trưởng thành của nhiều thế hệ nhà báo - nghệ sĩ điện ảnh. Họ đã cho ra đời hơn 1.500 phim thời sự và phóng sự ngắn, trên 2.000 phim tài liệu, hơn 300 phim khoa học và hàng triệu mét phim tư liệu.

Trước khi Truyền hình Việt Nam chính thức ra đời, báo hình ở Việt Nam đã ghi danh và đặt chân vào lịch sử báo chí bởi chính những nhà báo – nghệ sĩ điện ảnh với những tác phẩm điện ảnh đầy chất thời sự, tư liệu báo chí.

Đài Truyền hình Sài Gòn
Cuối năm 1965, ngụy quyền Sài Gòn dùng máy bay Mỹ tiếp vận chương trình truyền hình tại Hạm đội 7 Philippin và Okinawa từ 16 đến 18 giờ tối. Đến cuối năm 1966, đài truyền hình bắt đầu được xây dựng tại Sài Gòn, đến cuối năm 1967 thì hoàn thành các trụ phát tuyến tại các tỉnh miền Tây, miền Đông, miền Trung, Cao nguyên để tiếp vận các chương trình truyền hình phát từ Sài Gòn các buổi trưa, chiều và tối. Buổi tối có thêm phần truyền hình của Mỹ.

Năm 1965, tại Sài Gòn, máy truyền hình đã xuất hiện lần đầu tiên. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, người Mỹ thiết lập hệ thống vô tuyến truyền hình cho quân đội và giúp thành lập một đài truyền hình và đào tạo chuyên viên VN để tự điều hành các hoạt động. Năm 1966, chính phủ VNCH khánh thành đài vô tuyến truyền hình đầu tiên, đồng thời thành lập Nha VTTH VN đặt tại Trung tâm điện ảnh. Nhiệm vụ của Nha là hằng ngày cung cấp các chương trình cho Đài VTTH Sài Gòn trên băng tần số 9. Từ tháng 1.1966 đến tháng 12.1967, hệ thống VTTH Sài Gòn chỉ có một phim trường rất nhỏ tại Trung tâm điện ảnh số 15 Thi Sách, Sài Gòn. Trong thời gian này, các chương trình kể cả tin tức đều được thu vào băng từ (video tape) rồi được chuyển lên hai máy bay Super Constellation để phát theo hệ thống Flying station, vì thế hình ảnh thường bị rung, mờ, không rõ. Buổi truyền hình đầu tiên phát vào ngày 29.1.1966. Trong buổi phát, máy bay vận tải Super Constellation bốn động cơ đặt tên là Ô-xanh 2 bay ở độ cao ổn định là 3.150 m. Mỗi tối máy bay này chở hàng tấn máy móc rời phi trường Tân Sơn Nhất lên tới độ cao nhất định tại một địa điểm phía đông nam Sài Gòn khoảng 32 km rồi từ đó bay theo một lộ trình không thay đổi, lặp lại mỗi đêm với tốc độ ổn định là 271 km/giờ. Máy bay bay suốt bốn giờ liên tục từ 19 giờ đến 23 giờ mới hạ cánh lại Tân Sơn Nhất. Từ 20 giờ máy bay phục vụ cho chương trình truyền hình thứ nhì loan tin và giải trí cho quân đội Mỹ đến 23 giờ. Trong máy bay có hai máy truyền hình mạnh 2.000 kW, hai máy thu hình và tiếng vào băng, hai hệ thống kiểm soát âm thanh, hai hệ thống vô tuyến điện ảnh dùng phim 16 ly. Các làn sóng điện đem theo hình ảnh và âm thanh có thể được tiếp nhận tới các nơi xa Sài Gòn như Campuchia (cách 120 km), Đà Nẵng (608 km), Cà Mau (206 km). Tuy nhiên Sài Gòn và tỉnh lân cận mới tiếp nhận hoàn hảo.
Vào khoảng cuối năm 1967, hệ thống này được mở rộng hơn, hai máy bay Super Constellation được thay bằng máy bay Blue Eagle. Đến tháng 3.1968, khi đài truyền hình mới đã được xây xong tại số 9 Hồng Thập Tự (nay là trụ sở Đài truyền hình TP.HCM) thì nhờ có trụ phát tuyến cao nên hình ảnh được rõ ràng, không còn mờ rung như khi phát hình bằng máy bay nữa. 


Đài Truyền hình Việt Nam 
Là Đài Truyền hình Quốc gia trực thuộc Chính phủ Việt Nam, được phát sóng trong nước và có kênh phát qua vệ tinh đi quốc tế.
Đài Truyền hình Việt Nam viết tắt là VTV. Ba chữ cái in hoa VTV được dùng làm biểu tượng của Đài, lần lượt được thể hiện trong ba màu đỏ, lục, lam. VTV là viết tắt của tên gọi tiếng Anh của Đài Truyền hình Việt Nam (Vietnam Television). Tên viết tắt này bắt đầu được sử dụng từ năm 1993.


Giai đoạn 1970 -1975
Từ giữa năm 1965, bên cạnh tăng cường lực lượng chiến tranh quân sự, đế quốc Mỹ còn mở rộng phạm vi tuyên truyền. Chúng cho xây dựng một hệ thống các đài truyền hình nhằm dùng loại hình báo chí điện tử lợi hại này làm công cụ tuyên truyền cho chính quyền tay sai Sài Gòn, đồng thời cũng mở ra thêm một loại hình báo chí mới ở miền Nam. Khi ấy, ở miền Bắc tuy báo chí cách mạng có những bước phát triển đáng kể nhưng vẫn chưa có đài truyền hình.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            
Sự cần thiết phải có một đài truyền hình quốc gia là mong muốn của Đảng, Chính phủ và những người làm công tác quản lý báo chí, thông tin tuyên truyền, cũng là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển báo chí cách mạng Việt Nam.       
Chính vì lẽ đó, từ năm 1967, lãnh đạo Đài TNVN đã bắt đầu chuẩn bị cho công việc này. Một trong những người đặt nền móng cho sự ra đời báo hình là đồng chí Trần Lâm - Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông đã ký với Viện Phát thanh Truyền hình Cuba hiệp định hợp tác. 18 cán bộ của Đài TNVN đã được nước bạn giúp đào tạo cả về lý thuyết và thực hành trong tất cả các khâu làm truyền hình.
Ngày 4/1/1968, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị ký Quyết định số 01/TTG-VP thành lập Xưởng phim Vô tuyến truyền hình do ông Nguyễn Phan Ngọc làm Giám đốc. Xưởng phim đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là sản xuất phim vô tuyến truyền hình (16mm) để gửi cho các Đài truyền hình nước ngoài tuyên truyền về cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam; hướng dẫn những đoàn quay phim vô tuyến truyền hình nước ngoài đến quay phim ở Việt Nam; chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết cho việc xây dựng một xưởng phim vô tuyến truyền hình hoàn chỉnh và cho việc xây dựng ngành vô tuyến truyền hình phục vụ cho công tác tuyên truyền ở trong nước sau này.Cuối tháng 9/1969 thành lập Tổ Vô tuyến Truyền hình nằm trong phòng nghiên cứu kỹ thuật. Tổ gồm có 5 người do Nguyễn Văn Điểm làm Tổ trưởng. Tổ có nhiệm vụ nghiên cứu sâu về thiết bị lắp ráp các mạch tiến tới tự tạo thiết bị hoàn chỉnh. Cũng từ đây có tổ Đảng đầu tiên mang tên Vô tuyến Truyền hình.
Ngày 20/1/1970, Bộ Biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt các đơn vị trong toàn Đài. Hội nghị đã quán triệt việc phát huy truyền thống tự lực cánh sinh và tinh thần sáng tạo để lắp các thiết bị truyền hình phục vụ cho chương trình phát sóng thử nghiệm đầu tiên đúng ngày 7/9/1970 nhân kỷ niệm 25 năm Đài Tiếng nói Việt Nam và đón thời cơ khi giải phóng miền Nam có thể tiếp quản Đài Truyền hình Sài Gòn.
Ngày 07/9/1970, từ một phòng thu của Đài Tiếng nói Việt Nam, tín hiệu truyền hình đầu tiên đã được phát sóng, đánh dấu sự ra đời của ngành Truyền hình Việt Nam. Truyền hình Việt Nam ra đời từ trong lòng Đài TNVN, hiển hiện trong khuôn viên 58 Quán Sứ với cột ăng-ten cao 59m, với những camera tự tạo, thô sơ mà hiệu quả, gọi theo kiểu quân sự là “súng ngựa trời”.  Từ đây, báo chí nước ta có thêm loại hình mới : Báo hình, truyền tải thông tin kèm hình ảnh, tiếng động… với những ưu thế đặc biệt mà cho đến lúc đó không loại hình báo chí nào có được.
Năm 1971, Đài Tiếng nói Việt Nam thành lập Ban biên tập Vô tuyến truyền hình. Ngày 16 tháng 4 năm 1972, Đài ngừng phát sóng và được sơ tán nhằm đảm bảo an toàn. Năm 1973, Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng chương trình đầu tiên trên màn hình đen- trắng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đài TNVN và Đài Giải phóng A thành lập 5 đoàn công tác từ Hà Nội vào cùng đoàn quân Đài Giải phóng B từ miền Đông Nam bộ tiến về tiếp quản toàn bộ hệ thống phát thanh, truyền hình của chính quyền Sài gòn, kịp thời phát đi các chương trình Phát thanh, Truyền hình cách mạng đầu tiên trong ngày toàn thắng. 

Giai đoạn 1976-1986
Năm 1976, Trung tâm truyền hình được xây dựng ở Giảng Võ. Ngày 18 tháng 6 năm 1977, Ban biên tập Vô tuyến truyền hình tách khỏi Đài Tiếng nói Việt Nam, chuyển thành Đài Truyền hình Trung ương và chuyển tới địa điểm mới.
Giai đoạn 1976 -1986 là giai đoạn Đài truyền hình Việt Nam chuyển sang phát chính thức, từ truyền hình đen trắng chuyển sang truyền hình màu. Bên cạnh việc thống nhất hệ thống truyền hình ở hai miền, Đài Truyền hình Việt Nam cũng không ngừng tăng cường cơ sở vật chất để phát sóng cao hơn, xa hơn. Ngày 28/19/1976,  Đài phát sóng truyền hình Tam Đảo được khởi công, tạo điều kiện phủ sóng truyền hình các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trung du và một phần miền núi. Bên cạnh đó, hệ thống truyền hình địa phương cũng phát triển rộng khắp, tiếp sóng và phát lại các chương trình của Đài Trung ương.


Giai đoạn 1986 đến nay
Ngày 30 tháng 4 năm 1987, Đài Truyền hình Trung ương đổi tên thành Đài Truyền hình Việt Nam..
Ngày  01 tháng 1 năm 1990, Đài bắt đầu phát sóng 2 kênh: VTV1 và VTV2.
Tháng 2 năm 1991, phát sóng vệ tinh kênh VTV1 để các đài địa phương thu và phát lại nhằm phủ sóng toàn quốc. 
Tháng 4 năm 1995, phát 3 kênh VTV1, VTV2 và VTV3, đến 31/3/1996 thì VTV3 được tách thành kênh riêng. 
Ngày 31/3/1998, VTV3 được phát sóng vệ tinh. Năm 1998, VTV4 được phát sóng chính thức. 
Đến ngày 27 tháng 4 năm 2000, VTV4 được phát trên mạng toàn cầu qua 3 quả vệ tinh phủ sóng toàn bộ châu Á, châu Âu, Bắc Phi, Bắc Mỹ. Tháng 3 năm 2001: Chuẩn DVB - T được chính thức chọn làm chuẩn phát sóng số mặt đất của VTV. 
Ngày 10 tháng 2 năm 2002: Bắt đầu phát VTV5 phục vụ đồng bào thiểu số bằng tiếng dân tộc. 
Tháng 10 năm 2004: Mạng DTH được chính thức khai trương song song với mạng truyền hình cáp và MMDS. 
Tháng 12 năm 2005: Dịch vụ Internet băng thông rộng được chính thức khai trương trên mạng DTH và Truyền hình cáp. 
Từ năm 2007 đến nay: VTV đã tăng thêm 1 kênh quảng bá và 1 kênh khu vực, gồm: VTV9 (phát sóng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đồng thời trên hệ thống cáp VTVCab) và VTV6 - Kênh truyền hình dành riêng cho giới trẻ, phủ sóng toàn quốc, hàng chục kênh trả tiền. 
Ngày 31 tháng 3 năm 2013: Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng thử nghiệm kênh VTV3 chuẩn tín hiệu HD và từ ngày 1 tháng 6 phát sóng chính thức theo lộ trình. 
Ngày 7 tháng 9 năm 2013: Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng kênh VTV6 chuẩn tín hiệu HD từ ngày 7 tháng 9 năm 2013, nâng tổng số kênh HD của kênh VTV lên thành 2 kênh. 
Ngày 31 tháng 3 năm 2014: kênh VTV1 HD chính thức phát sóng, nâng tổng số kênh HD của VTV lên thành 3 kênh. 
Ngày 3 tháng 4 năm 2015: VTV chính thức cho ra dịch vụ cập nhật tin tức AloVTV. 
Ngày 19 tháng 5 năm 2015: phát sóng kênh VTV2 HD, nâng tổng số kênh lên thành 4 kênh phát theo tiêu chuẩn HD của VTV. 
Ngày 21 tháng 6 năm 2015: phát sóng kênh VTV4 HD, nâng tổng số kênh HD của VTV lên thành 5 kênh. 
Ngày 01 tháng 7 năm 2015: phát sóng kênh VTV5 HD, nâng tổng số kênh của VTV lên thành 18 và tổng số kênh HD lên 6 kênh. 
Ngày 28 tháng 8 năm 2015: phát sóng kênh VTV9 HD, nâng tổng số kênh HD của VTV lên 7 kênh. 
Ngày 6 tháng 9 năm 2015: ra mắt kênh truyền hình Internet VTV You Do (youdo.vn). 
Ngày 20 tháng 11 năm 2015: phát thử nghiệm kênh VTV7 & VTV7 HD trên hạ tầng Truyền hình số mặt đất DVB - T2 và Truyền hình cáp của VTV (VTVCab), phát chính thức vào ngày 01/01/2016 trên tất cả các hạ tầng. 
Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu phản ánh các sự kiện mọi lĩnh vc trên thế giới, những năm gần đây Đài Truyền hình Việt Nam tiếp tục kiện toàn hệ thống các cơ quan thường trú tại các nước thuộc nhiều châu lục. 
Để phục vụ tốt hơn mọi đối tượng bạn xem truyền hình, nhiều kênh truyền hình mới như VTV7, VTV8… được phát sóng.
Với đà tăng trưởng mạnh mẽ, với quyết tâm của cả đội ngũ hơn 4000 cán bộ khắp các khu vực trên toàn quốc và trên thế giới, VTV đang quyết tâm xây dựng hình ảnh một Đài Truyền hình Quốc gia năng động, hội nhập trình độ với khu vực, thế giới và có vị thế vững chắc trên trường quốc tế. 

MỘT VÀI CON SỐ
Hiện cả nước có 67 đài PT-TH: 
02 đài quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC trước đây thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, nay đã  chuyển sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam; 64 đài địa phương.
Số kênh chương trình PT-TH quảng bá là 183 kênh, với 106 kênh chương trình truyền hình quảng bá, 77 kênh chương trình phát thanh quảng bá (năm 2015 cấp mới kênh FM cảm xúc và kênh Tiếng Anh 24/7; cấp mới 01 kênh truyền hình quảng bá, kênh Giáo dục - VTV7, cho Đài Truyền hình Việt Nam); 75 kênh chương trình truyền hình trả tiền.
Giai đoạn 2011-2015, một số đơn vị mới tham gia hoạt động truyền hình, đánh dấu sự phát triển của truyền hình trong xu thế hội tụ và sử dụng chung hạ tầng, là các đơn vị: Đài Tiếng nói Việt Nam (Kênh Truyền hình VOVTV, Kênh Truyền hình Quốc hội); Trung tâm PTTH, Điện ảnh Công an nhân dân của Bộ Công an (Kênh Truyền hình ANTV); Trung tâm Truyền hình thông tấn - TTXVN (Kênh VNews); Trung tâm PTTH Quân đội (Kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam (QPVN); Báo Nhân dân (Kênh Truyền hình Nhân dân).
Các cơ quan thường trú tại nước ngoài.v.v...

LÃNH ĐẠO ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM CÁC THỜI KỲ
-    Ông Trần Lâm – Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh – Truyền hình. (Năm 1976 ông là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, năm 1981 là Ủy viên Trung ương Đảng).
-    Ông Lê Quý – Trưởng Ban biên tập Vô tuyến truyền hình năm 1971; 1975-1978; Tổng Biên tập Đài Truyền hình Trung ương 1980-1984.
-    Ông Huỳnh Văn Tiểng – Trưởng Ban biên tập Vô tuyến truyền hình năm 1971-1975.
-    Ông Lý Văn Sáu – Tổng biên tập Đài Truyền hình Trung ương năm 1978-1980.
-    Ông Nguyễn Văn Hán – Tổng biên tập Đài Truyền hình Việt Nam kiêm Giám đốc Trung tâm Nghe nhìn từ năm 1984-1988.
-    Ông Phạm Khắc Lãm – Tổng Giám đốc kiêm Tổng Biên tập Đài Truyền hình Việt Nam từ năm 1988-1993.
-    Ông Hồ Anh Dũng – Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam từ năm 1994-2001.
-    Ông Vũ Văn Hiến - Ủy viên TƯ Đảng – Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam từ năm 2001-2011.
-    Ông Trần Bình Minh – Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam từ 2011 đến nay.

Ban quản lý các dự án thành phần Đề án Bảo tàng Báo chí Việt Nam (Tổng hợp)